Giấy chứng nhận đăng ký tổ hợp tác là căn cứ ghi nhận các thông tin đăng ký cơ bản của tổ hợp tác. Trong một số trường hợp vi phạm hoặc theo quyết định, đề nghị của cơ quan có thẩm quyền, Giấy chứng nhận này có thể bị thu hồi. Vậy tổ hợp tác bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký trong những trường hợp nào?
- 1. Tổ hợp tác bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký trong những trường hợp nào?
- 2. Hồ sơ đăng ký thành lập tổ hợp tác có nội dung giả mạo bị xử lý thế nào?
- 3. Không gửi báo cáo thì khi nào tổ hợp tác bị thu hồi Giấy chứng nhận?
- 4. Thu hồi Giấy chứng nhận theo quyết định của Tòa án được thực hiện ra sao?
- 5. Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền đề nghị thu hồi thì xử lý thế nào?
- 6. Sau khi Giấy chứng nhận đăng ký tổ hợp tác bị thu hồi thì xử lý thế nào?
- 7. Giấy chứng nhận đăng ký tổ hợp tác đã bị thu hồi có thể được khôi phục không?
1. Tổ hợp tác bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký trong những trường hợp nào?
Theo khoản 1 Điều 65 Nghị định 295/2026/NĐ-CP, tổ hợp tác bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký tổ hợp tác trong các trường hợp sau đây:
- Nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký thành lập tổ hợp tác là giả mạo;
- Không gửi báo cáo yêu cầu tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã báo cáo về việc tuân thủ đến cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn gửi báo cáo;
- Theo quyết định của Tòa án;
- Theo đề nghị của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của luật có liên quan.
Như vậy, Nghị định 295/2026/NĐ-CP xác định 04 trường hợp dẫn đến thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký tổ hợp tác.
2. Hồ sơ đăng ký thành lập tổ hợp tác có nội dung giả mạo bị xử lý thế nào?

Trường hợp thứ nhất là nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký thành lập tổ hợp tác là giả mạo.
Theo điểm a khoản 2 Điều 65 Nghị định 295/2026/NĐ-CP, khi thuộc trường hợp này, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã:
- Ra thông báo về hành vi vi phạm;
- Ra quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký tổ hợp tác.
Thời hạn thực hiện là 03 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã nhận được giấy tờ xác định nội dung kê khai trong hồ sơ là giả mạo theo khoản 2 Điều 23 Nghị định 295/2026/NĐ-CP.
Nghị định đồng thời phân biệt trường hợp giả mạo trong hồ sơ đăng ký thành lập với giả mạo trong hồ sơ đăng ký thay đổi.
Nếu nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký thay đổi tổ hợp tác là giả mạo thì cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã ra thông báo về hành vi vi phạm và quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký tổ hợp tác của lần đăng ký thay đổi được cấp trên cơ sở hồ sơ giả mạo, cũng trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được giấy tờ theo quy định.
Sau đó, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã thông báo cho cơ quan quản lý thuế và cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phối hợp quản lý, xử lý; đồng thời cấp Giấy chứng nhận đăng ký tổ hợp tác trên cơ sở hồ sơ hợp lệ liền kề trước hồ sơ đăng ký thay đổi có nội dung giả mạo.
Tổ hợp tác cũng có thể nộp lại hồ sơ để được xem xét cấp Giấy chứng nhận đăng ký tổ hợp tác và có thể gộp các nội dung thay đổi hợp pháp của các lần đăng ký liền kề sau hồ sơ giả mạo trong một bộ hồ sơ đăng ký thay đổi mới.
3. Không gửi báo cáo thì khi nào tổ hợp tác bị thu hồi Giấy chứng nhận?
Điểm b khoản 1 Điều 65 Nghị định 295/2026/NĐ-CP quy định một trường hợp thu hồi là tổ hợp tác không gửi báo cáo theo khoản 6 Điều 7 Nghị định này đến cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn gửi báo cáo.
Khoản 6 Điều 7 Nghị định 295/2026/NĐ-CP trao cho cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã quyền yêu cầu tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã báo cáo về việc tuân thủ các quy định tại Luật Hợp tác xã và Nghị định này.
Đối với thủ tục thu hồi trong trường hợp không gửi báo cáo, khoản 3 Điều 65 quy định:
- Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc thời hạn 30 ngày nêu trên, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã thông báo bằng văn bản về hành vi vi phạm;
- Đồng thời yêu cầu tổ trưởng tổ hợp tác đến cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã để giải trình;
- Khi kết thúc thời hạn giải trình ghi trong thông báo, nếu người được yêu cầu không đến hoặc nội dung giải trình không được chấp thuận thì cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã ra quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký tổ hợp tác;
- Quyết định thu hồi được ban hành trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc thời hạn giải trình.
Một trường hợp cụ thể có thể phát sinh nghĩa vụ báo cáo này là sau khi kết thúc thời gian tạm ngừng kinh doanh. Nghị định quy định người đại diện tổ hợp tác phải xác nhận việc tiếp tục kinh doanh trở lại; nếu không xác nhận, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã yêu cầu tổ hợp tác báo cáo. Nếu tiếp tục không gửi báo cáo trong 30 ngày kể từ ngày hết hạn thì Giấy chứng nhận đăng ký tổ hợp tác bị thu hồi theo khoản 3 Điều 65.
4. Thu hồi Giấy chứng nhận theo quyết định của Tòa án được thực hiện ra sao?
Trường hợp thứ ba được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 65 Nghị định 295/2026/NĐ-CP là thu hồi theo quyết định của Tòa án.
Theo khoản 4 Điều 65, khi cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã nhận được quyết định của Tòa án về việc thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký tổ hợp tác thì:
- Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã thực hiện việc thu hồi theo quyết định của Tòa án;
- Thời hạn ra quyết định thu hồi là 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.
Trong trường hợp này, căn cứ trực tiếp để cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã thu hồi Giấy chứng nhận là quyết định của Tòa án đã được gửi đến cơ quan này.
5. Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền đề nghị thu hồi thì xử lý thế nào?
Điểm d khoản 1 Điều 65 Nghị định 295/2026/NĐ-CP quy định tổ hợp tác cũng bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký theo đề nghị của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của luật có liên quan.
Theo khoản 5 Điều 65, khi nhận được văn bản đề nghị thu hồi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã phải:
- Ra thông báo bằng văn bản về hành vi vi phạm;
- Ra quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký tổ hợp tác.
Thời hạn thực hiện là 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị thu hồi.
Như vậy, khác với trường hợp không gửi báo cáo phải trải qua bước yêu cầu giải trình, trường hợp có văn bản đề nghị thu hồi của cơ quan có thẩm quyền thì cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã xử lý trên cơ sở văn bản đề nghị đó theo trình tự.
6. Sau khi Giấy chứng nhận đăng ký tổ hợp tác bị thu hồi thì xử lý thế nào?
Theo khoản 6 Điều 65 Nghị định 295/2026/NĐ-CP, khi ban hành quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký tổ hợp tác, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã đồng thời:
- Ra thông báo về việc tổ hợp tác đang làm thủ tục chấm dứt hoạt động;
- Cập nhật tình trạng pháp lý của tổ hợp tác sang tình trạng đang làm thủ tục chấm dứt hoạt động.
Ngoại lệ là trường hợp tổ hợp tác bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký để thực hiện biện pháp cưỡng chế nợ thuế theo đề nghị của cơ quan quản lý thuế.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra thông báo vi phạm, quyết định thu hồi và thông báo tình trạng đang làm thủ tục chấm dứt hoạt động, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã phải:
- Đăng tải thông báo vi phạm;
- Đăng tải quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký tổ hợp tác;
- Đăng tải thông báo về việc tổ hợp tác đang làm thủ tục chấm dứt hoạt động trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp;
- Gửi thông báo vi phạm và quyết định thu hồi đến trụ sở của tổ hợp tác;
- Gửi thông tin sang cơ quan thuế để cập nhật và phối hợp quản lý.
Sau đó, tổ hợp tác phải thực hiện thủ tục chấm dứt hoạt động.
7. Giấy chứng nhận đăng ký tổ hợp tác đã bị thu hồi có thể được khôi phục không?
Có trường hợp Giấy chứng nhận đăng ký tổ hợp tác đã bị thu hồi được khôi phục.
Khoản 7 Điều 65 Nghị định 295/2026/NĐ-CP quy định cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã ra quyết định hủy bỏ quyết định thu hồi và khôi phục Giấy chứng nhận đăng ký tổ hợp tác theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 57 Nghị định này.
Do đó, việc thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký tổ hợp tác và việc hủy bỏ quyết định thu hồi là hai thủ tục riêng, được Nghị định 295/2026/NĐ-CP quy định cụ thể.
Nghị định 295/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 23/7/2026 và thay thế Nghị định 92/2024/NĐ-CP về đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.
Trên đây là thông tin về “Tổ hợp tác bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký trong những trường hợp nào?” được trình bày theo Nghị định 295/2026/NĐ-CP. Mời bạn theo dõi LuatVietnam.vn để cập nhật thêm các quy định về đào tạo chuyên môn trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng.
RSS