Thay đổi họ tên, số định danh cá nhân hoặc hộ chiếu có thể liên quan đến việc cập nhật thông tin đăng ký thuế. Vậy thay đổi thông tin cá nhân có phải thông báo với cơ quan thuế không? Thời hạn thực hiện được quy định thế nào?
- 1. Thay đổi thông tin cá nhân có phải thông báo với cơ quan thuế không?
- 2. Thời hạn thông báo thay đổi thông tin cá nhân là bao lâu?
- 2.1. Thời hạn khi thay đổi họ tên, số định danh cá nhân, ngày sinh hoặc hộ chiếu
- 2.2. Thời hạn thay đổi thông tin đăng ký thuế theo quy định chung
- 3. Cá nhân có được ủy quyền cho nơi trả thu nhập thông báo thay đổi thông tin không?
- 3.1. Cá nhân phải thông báo trong 10 ngày làm việc
- 3.2. Bên chi trả thu nhập phải thông báo trong 10 ngày làm việc từ khi nhận ủy quyền
- 4. Trường hợp nào không phải làm thủ tục thay đổi thông tin với cơ quan thuế?
1. Thay đổi thông tin cá nhân có phải thông báo với cơ quan thuế không?
Theo điểm e khoản 3 Điều 6 Nghị định 252/2026/NĐ-CP, cá nhân thay đổi thông tin đăng ký thuế phải thực hiện thông báo theo thời hạn tương ứng. Tuy nhiên, cá nhân thuộc trường hợp quy định tại điểm e.2 không phải làm thủ tục thay đổi thông tin với cơ quan thuế nếu dữ liệu dân cư đã kết nối, chia sẻ với dữ liệu thuế và tự động đồng bộ khi thông tin thay đổi.
Cụ thể, điểm e.2 khoản 3 Điều 6 Nghị định 252/2026/NĐ-CP, quy định thời hạn thay đổi thông tin đăng ký thuế đối với các thông tin:
- Họ và tên, số định danh cá nhân, ngày tháng năm sinh đối với người Việt Nam.
- Hộ chiếu đối với người nước ngoài.
Đối với những thông tin này, cá nhân có thể tự thực hiện việc thay đổi thông tin đăng ký thuế hoặc ủy quyền cho tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập thực hiện theo quy định.
Riêng trường hợp đáp ứng điều kiện tự động đồng bộ dữ liệu tại điểm e.3 khoản 3 Điều 6, cá nhân không phải thực hiện thủ tục thay đổi thông tin với cơ quan thuế. Hệ thống thông tin quản lý thuế sẽ gửi thông báo tự động về thông tin thay đổi đã được cập nhật.
Bên cạnh quy định về thời hạn và trường hợp không phải làm thủ tục, điểm a khoản 1 Điều 7 Nghị định 252/2026/NĐ-CP còn xác định trách nhiệm của người nộp thuế trong việc cung cấp thông tin. Theo đó, người nộp thuế phải cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời thông tin đăng ký thuế khi đăng ký lần đầu và khi có thay đổi; chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin do mình cung cấp.

2. Thời hạn thông báo thay đổi thông tin cá nhân là bao lâu?
Điểm e khoản 3 Điều 6 Nghị định 252/2026/NĐ-CP quy định thời hạn thay đổi thông tin đăng ký thuế theo từng trường hợp. Vì vậy, cần xác định loại thông tin thay đổi và việc cá nhân tự thực hiện hay ủy quyền cho bên chi trả thu nhập.
2.1. Thời hạn khi thay đổi họ tên, số định danh cá nhân, ngày sinh hoặc hộ chiếu
Cá nhân thay đổi họ tên, số định danh cá nhân, ngày tháng năm sinh đối với người Việt Nam hoặc hộ chiếu đối với người nước ngoài có thời hạn thay đổi thông tin đăng ký thuế là:
- 20 ngày làm việc đối với trường hợp thông thường.
- 30 ngày đối với các xã miền núi vùng cao, biên giới, hải đảo.
Thời hạn được tính kể từ ngày thay đổi trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoặc ngày ghi trên hộ chiếu, tương ứng với thông tin thay đổi.
Như vậy, đối với thông tin họ tên, số định danh cá nhân, ngày tháng năm sinh của người Việt Nam, quy định xác định mốc tính thời hạn theo ngày thay đổi trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Đối với hộ chiếu của người nước ngoài, mốc tính thời hạn là ngày ghi trên hộ chiếu.
2.2. Thời hạn thay đổi thông tin đăng ký thuế theo quy định chung
Người nộp thuế đăng ký thuế trực tiếp với cơ quan thuế khi có thay đổi thông tin đăng ký thuế phải thông báo cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày phát sinh thông tin thay đổi.
Đây là quy định chung về thời hạn thông báo thay đổi thông tin của người nộp thuế đăng ký thuế trực tiếp với cơ quan thuế.
3. Cá nhân có được ủy quyền cho nơi trả thu nhập thông báo thay đổi thông tin không?
Theo điểm e.2 khoản 3 Điều 6 Nghị định 252/2026/NĐ-CP, cá nhân được ủy quyền cho tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập thực hiện đăng ký thay đổi thông tin đăng ký thuế cho mình và người phụ thuộc.
Khi thực hiện theo hình thức này, cá nhân và bên chi trả thu nhập có trách nhiệm thông báo theo các thời hạn riêng.
3.1. Cá nhân phải thông báo trong 10 ngày làm việc
Cá nhân có ủy quyền phải thông báo cho tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập chậm nhất là 10 ngày làm việc kể từ ngày phát sinh thông tin thay đổi.
Quy định này áp dụng khi bên chi trả thu nhập được ủy quyền thực hiện đăng ký thay đổi thông tin đăng ký thuế cho cá nhân và người phụ thuộc.
Vì vậy, người lao động thực hiện việc thay đổi thông tin thông qua nơi trả thu nhập cần lưu ý thời hạn thông báo cho đơn vị. Mốc tính thời hạn trong trường hợp này là ngày phát sinh thông tin thay đổi theo quy định tại điểm e.2 khoản 3 Điều 6.
3.2. Bên chi trả thu nhập phải thông báo trong 10 ngày làm việc từ khi nhận ủy quyền
Sau khi nhận được ủy quyền, tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập có trách nhiệm thông báo cho cơ quan quản lý thuế chậm nhất là 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được ủy quyền của cá nhân.
Như vậy, hai thời hạn trên được tính từ hai thời điểm khác nhau:
- Thời hạn của cá nhân được tính từ ngày phát sinh thông tin thay đổi.
- Thời hạn của tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập được tính từ ngày nhận được ủy quyền.
Việc ủy quyền cho nơi trả thu nhập thực hiện đăng ký thay đổi thông tin vì thế gắn với trách nhiệm của cả hai bên. Cá nhân thông báo thông tin thay đổi, còn tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập thực hiện trách nhiệm thông báo cho cơ quan quản lý thuế trong thời hạn quy định.
4. Trường hợp nào không phải làm thủ tục thay đổi thông tin với cơ quan thuế?
Theo điểm e.3 khoản 3 Điều 6 Nghị định 252/2026/NĐ-CP, người nộp thuế thuộc trường hợp quy định tại điểm e.2 không phải thực hiện thủ tục thay đổi thông tin với cơ quan thuế khi đáp ứng các điều kiện:
- Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đã kết nối, chia sẻ dữ liệu với cơ sở dữ liệu của cơ quan thuế.
- Thông tin của cá nhân được tự động đồng bộ khi có thay đổi.
Trong trường hợp này, hệ thống thông tin quản lý thuế gửi thông báo tự động cho người nộp thuế biết về thông tin thay đổi đã được cập nhật.
Như vậy, việc không phải thực hiện thủ tục thay đổi thông tin gắn với cơ chế kết nối, chia sẻ và tự động đồng bộ dữ liệu được quy định cụ thể tại Nghị định.
Để thực hiện việc chia sẻ dữ liệu, điểm a khoản 4 Điều 7 Nghị định 252/2026/NĐ-CP quy định cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư có trách nhiệm cung cấp, chia sẻ thông tin định danh cá nhân cho cơ quan thuế để cấp mã số thuế cho người nộp thuế theo số định danh cá nhân.
Theo đó, thông tin được cung cấp, chia sẻ bao gồm:
- Số định danh cá nhân, họ và tên, ngày tháng năm sinh.
- Giới tính, quốc tịch, nơi cư trú.
- Tình trạng pháp lý của cá nhân: đang sống, chết, mất tích.
- Các thông tin khác theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, việc cung cấp, chia sẻ thông tin được thực hiện khi xác lập số định danh cá nhân; khi có thay đổi đối với thông tin đã cung cấp; khi hủy, xác lập lại số định danh cá nhân.
Đây là trách nhiệm chia sẻ thông tin của cơ quan quản lý dữ liệu dân cư. Còn đối với cá nhân, trường hợp không phải làm thủ tục thay đổi thông tin với cơ quan thuế được áp dụng theo đúng điều kiện tại điểm e.3 khoản 3 Điều 6.
Trên đây là quy định về việc thay đổi thông tin cá nhân có phải thông báo với cơ quan thuế không theo Nghị định 252/2026/NĐ-CP. Để tra cứu văn bản và cập nhật các quy định pháp luật về thuế, bạn đọc có thể truy cập LuatVietnam.vn.
RSS