Rủi ro pháp lý khi nhái nhãn hiệu đã được bảo hộ sở hữu trí tuệ

Tình trạng xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hiện nay diễn biến ngày càng phức tạp, với số lượng vụ việc gia tăng. Các hành vi vi phạm không chỉ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu nhãn hiệu mà còn tác động tiêu cực đến môi trường cạnh tranh và quyền lợi người tiêu dùng. 

​Không chỉ dừng ở việc làm giả nguyên mẫu tên gọi, logo hay bao bì sản phẩm, nhiều tổ chức, cá nhân còn sử dụng các dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu đã được bảo hộ nhằm gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng. Đây là hành vi có thể bị xem là xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Tại sự kiện “Hướng dẫn triển khai hoạt động quản lý nhà nước về thực thi bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” do Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức ngày 20/5, đại diện Phòng Pháp chế thuộc Chi cục Quản lý thị trường Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, các đơn thư đề nghị kiểm tra, xử lý vi phạm liên quan nhãn hiệu hiện đang chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số hồ sơ tiếp nhận.

Theo phản ánh từ cơ quan chức năng, thay vì sao chép hoàn toàn nhãn hiệu nổi tiếng như trước đây, nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh đã chuyển sang hình thức “biến tấu” nhãn hiệu bằng cách thay đổi một vài ký tự, điều chỉnh kiểu chữ, màu sắc hoặc thiết kế logo nhằm tạo cảm giác tương tự với thương hiệu đã được bảo hộ. Các dấu hiệu này thường khiến người tiêu dùng khó phân biệt, từ đó dễ nhầm tưởng hàng hóa, dịch vụ có liên quan chủ sở hữu nhãn hiệu thật.

Rủi ro pháp lý khi nhái nhãn hiệu đã được bảo hộ sở hữu trí tuệ
Rủi ro pháp lý khi nhái nhãn hiệu đã được bảo hộ sở hữu trí tuệ (Ảnh minh họa)

Theo khoản 1 Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi, bổ sung), hành vi sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đang được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự mà không được phép của chủ sở hữu có thể bị xem là hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu.

Bên cạnh đó, Điều 77 Nghị định 65/2023/NĐ-CP cũng hướng dẫn cụ thể việc xác định yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu. Theo đó, để xác định một dấu hiệu có phải là yếu tố xâm phạm hay không cần xem xét đồng thời cả dấu hiệu bị nghi ngờ vi phạm và hàng hóa, dịch vụ mang dấu hiệu đó.

Cụ thể, dấu hiệu bị xem xét phải có khả năng gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được bảo hộ về cấu tạo, cách phát âm, phiên âm, ý nghĩa, cách trình bày hoặc màu sắc. Đồng thời, hàng hóa, dịch vụ gắn dấu hiệu đó phải trùng, tương tự hoặc có liên quan về bản chất, chức năng, công dụng, kênh tiêu thụ với hàng hóa, dịch vụ thuộc phạm vi bảo hộ của nhãn hiệu.

Như vậy, pháp luật không chỉ xử lý trường hợp làm giả hoàn toàn nhãn hiệu mà còn xử lý cả các trường hợp sử dụng dấu hiệu tương tự đến mức gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng.

Thí dụ, việc một cửa hàng tự ý sử dụng logo của các thương hiệu công nghệ lớn như Apple hoặc Samsung trên biển hiệu, bảng quảng cáo hay các nền tảng bán hàng có thể khiến khách hàng hiểu nhầm đây là đại lý ủy quyền hoặc trung tâm bảo hành chính thức của hãng. Trong trường hợp nhãn hiệu đã được bảo hộ tại Việt Nam và việc sử dụng không được sự cho phép của chủ sở hữu, hành vi này có thể bị xem xét là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu.

Theo Điều 199 Luật Sở hữu trí tuệ, tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có thể bị áp dụng các biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự tùy theo tính chất, mức độ vi phạm. Ngoài ra, Điều 211 và Điều 212 Luật Sở hữu trí tuệ cũng quy định các trường hợp xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Do đó, các tổ chức, cá nhân kinh doanh cần đặc biệt lưu ý khi sử dụng tên gọi, logo, dấu hiệu nhận diện hoặc hình ảnh thương mại trên sản phẩm, biển hiệu và hoạt động quảng cáo nhằm tránh rủi ro vi phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu đã được bảo hộ.

Theo Báo Nhân Dân

(Bài viết có sự phối hợp cung cấp dữ liệu và thông tin pháp lý từ LuatVietnam.vn, được đăng trên báo Nhân Dân ngày 21/5/2026)

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Tổ chức, cá nhân sử dụng dữ liệu địa chất, khoáng sản phải tuân thủ những trách nhiệm gì?

Tổ chức, cá nhân sử dụng dữ liệu địa chất, khoáng sản phải tuân thủ những trách nhiệm gì?

Tổ chức, cá nhân sử dụng dữ liệu địa chất, khoáng sản phải tuân thủ những trách nhiệm gì?

Thông tin, dữ liệu địa chất, khoáng sản sau khi được cung cấp không được tùy ý sử dụng, chuyển giao hoặc chỉnh sửa. Vậy tổ chức, cá nhân sử dụng dữ liệu địa chất, khoáng sản phải tuân thủ những trách nhiệm gì?

 

Muốn được cung cấp thông tin, dữ liệu địa chất, khoáng sản phải lập phiếu yêu cầu như thế nào?

Muốn được cung cấp thông tin, dữ liệu địa chất, khoáng sản phải lập phiếu yêu cầu như thế nào?

Muốn được cung cấp thông tin, dữ liệu địa chất, khoáng sản phải lập phiếu yêu cầu như thế nào?

Thông tin, dữ liệu địa chất, khoáng sản có thể được cung cấp cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác, sử dụng theo quy định. Vậy muốn được cung cấp thông tin, dữ liệu địa chất, khoáng sản phải lập phiếu yêu cầu như thế nào?

 

Những ngoại ngữ nào được xác định là ngoại ngữ hiếm theo Nghị định 258/2026/NĐ-CP?

Những ngoại ngữ nào được xác định là ngoại ngữ hiếm theo Nghị định 258/2026/NĐ-CP?

Những ngoại ngữ nào được xác định là ngoại ngữ hiếm theo Nghị định 258/2026/NĐ-CP?

Nghị định 258/2026/NĐ-CP quy định danh sách ngoại ngữ hiếm cùng chế độ hỗ trợ đối với người sử dụng thành thạo các ngoại ngữ này. Vậy những ngoại ngữ nào được xác định là ngoại ngữ hiếm theo Nghị định 258/2026/NĐ-CP?

Vị trí của đương sự, luật sư và những người tham gia phiên tòa dân sự, hành chính được bố trí thế nào?

Vị trí của đương sự, luật sư và những người tham gia phiên tòa dân sự, hành chính được bố trí thế nào?

Vị trí của đương sự, luật sư và những người tham gia phiên tòa dân sự, hành chính được bố trí thế nào?

Thông tư 13/2026/TT-TANDTC quy định cụ thể vị trí của Hội đồng xét xử, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, Kiểm sát viên và những người khác tại phiên tòa. Vậy các vị trí này được bố trí thế nào?

Tòa án nhân dân phải công khai những thông tin gì theo Thông tư 16/2026/TT-TANDTC?

Tòa án nhân dân phải công khai những thông tin gì theo Thông tư 16/2026/TT-TANDTC?

Tòa án nhân dân phải công khai những thông tin gì theo Thông tư 16/2026/TT-TANDTC?

Thông tin về thụ lý vụ án, phiên tòa, bản án và hoạt động của Tòa án được công khai trong phạm vi nào? Tòa án nhân dân phải công khai những thông tin gì theo Thông tư 16/2026/TT-TANDTC? Bài viết dưới đây làm rõ nội dung, đối tượng tiếp cận và hình thức công khai.

Thông tư 35/2026/TT-BYT quy định phân cấp thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực bảo trợ xã hội như thế nào?

Thông tư 35/2026/TT-BYT quy định phân cấp thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực bảo trợ xã hội như thế nào?

Thông tư 35/2026/TT-BYT quy định phân cấp thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực bảo trợ xã hội như thế nào?

Việc bồi dưỡng nhân lực, hướng dẫn hỗ trợ nạn nhân bị mua bán và giải quyết vướng mắc về bảo trợ xã hội được giao cho cơ quan nào? Dưới đây là các nhiệm vụ được phân cấp và trách nhiệm tổ chức thực hiện theo Thông tư 35/2026/TT-BYT.

Thông tư 06/2026/TT-BDTTG quy định phân cấp quản lý ngân sách, tài sản công, đầu tư xây dựng và chuyển đổi số như thế nào?

Thông tư 06/2026/TT-BDTTG quy định phân cấp quản lý ngân sách, tài sản công, đầu tư xây dựng và chuyển đổi số như thế nào?

Thông tư 06/2026/TT-BDTTG quy định phân cấp quản lý ngân sách, tài sản công, đầu tư xây dựng và chuyển đổi số như thế nào?

Thông tư 06/2026/TT-BDTTG xác định thẩm quyền quyết định và trách nhiệm của các đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ Dân tộc và Tôn giáo. Vậy Thông tư quy định phân cấp quản lý ngân sách, tài sản công, đầu tư xây dựng và chuyển đổi số như thế nào?