Nghị định 142/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật Trí tuệ nhân tạo: 8 nội dung đáng chú ý

Trong bài viết dưới đây, LuatVietnam sẽ tổng hợp 8 nội dung đáng chú ý tại Nghị định 142/2026/NĐ-CP được ban hành ngày 30/4/2026, hiệu lực từ 01/5/2026 về quản lý, phát triển và triển khai hệ thống trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam. 

1. Phân loại hệ thống trí tuệ nhân tạo theo mức độ rủi ro là nghĩa vụ bắt buộc

Theo Điều 5 và Điều 6 Nghị định 142/2026/NĐ-CP, nhà cung cấp phải tự thực hiện phân loại hệ thống trí tuệ nhân tạo trước khi đưa vào sử dụng và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả phân loại. Hệ thống AI được chia thành 03 mức độ gồm rủi ro cao, rủi ro trung bình và rủi ro thấp.

Trong đó, hệ thống AI rủi ro cao là các hệ thống thuộc Danh mục do Thủ tướng Chính phủ ban hành. Điều 8 quy định việc xác định rủi ro cao căn cứ vào mức độ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền con người, an ninh quốc gia và phạm vi tác động của hệ thống.

Đối với hệ thống AI rủi ro trung bình, Điều 9 quy định đây là các hệ thống có khả năng gây nhầm lẫn hoặc thao túng người sử dụng do không nhận biết được đang tương tác với AI hoặc không nhận biết được nội dung do AI tạo ra. Tuy nhiên, các hệ thống chỉ hỗ trợ chỉnh sửa kỹ thuật, công việc văn phòng thông thường hoặc dùng nội bộ sẽ không thuộc nhóm này.

nội dung đáng chú ý tại Nghị định hướng dẫn Luật trí tuệ nhân tạo
Phân loại hệ thống trí tuệ nhân tạo theo mức độ rủi ro là nghĩa vụ bắt buộc (Ảnh minh họa)

2. Phải rà soát và phân loại lại AI khi thay đổi chức năng hoặc phát sinh rủi ro mới

Theo Điều 11 Nghị định 142/2026/NĐ-CP, nhà cung cấp phải rà soát và phân loại lại hệ thống AI khi có thay đổi đáng kể về chức năng, mục đích sử dụng, ngữ cảnh triển khai; khi xảy ra sự cố nghiêm trọng; khi Danh mục AI rủi ro cao được sửa đổi hoặc khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.

Bên triển khai nếu sửa đổi hoặc tích hợp hệ thống làm phát sinh rủi ro mới cũng phải phối hợp với nhà cung cấp để phân loại lại. Trường hợp mức độ rủi ro tăng cao hơn trước, kết quả phân loại lại phải được thông báo cho cơ quan quản lý trong thời hạn 15 ngày làm việc và đồng thời phải áp dụng biện pháp quản lý phù hợp với mức độ rủi ro mới.

Ngoài ra, Điều 13 quy định các trường hợp thay đổi kiến trúc hệ thống, mô hình AI, dữ liệu đầu vào hoặc môi trường vận hành có thể phải đánh giá lại sự phù hợp đối với hệ thống AI rủi ro cao. Tuy nhiên, các hoạt động cập nhật dữ liệu định kỳ, sửa lỗi kỹ thuật hoặc tối ưu hiệu năng nhưng không làm thay đổi bản chất rủi ro thì không bắt buộc phân loại lại. 

3. Hệ thống AI rủi ro trung bình và rủi ro cao phải thông báo trước khi đưa vào sử dụng

Theo Điều 14 Nghị định 142/2026/NĐ-CP, nhà cung cấp hệ thống AI rủi ro trung bình và rủi ro cao phải thông báo kết quả phân loại rủi ro cho Bộ Khoa học và Công nghệ trước khi đưa vào sử dụng. Việc thông báo được thực hiện điện tử thông qua cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo.

Hồ sơ thông báo phải thể hiện thông tin về hệ thống AI, nhà cung cấp, mục đích sử dụng, phạm vi triển khai, dữ liệu đầu vào và các biện pháp quản lý rủi ro theo Điều 12 Nghị định 142/2026/NĐ-CP.

Sau khi hoàn tất thông báo, hệ thống sẽ tự động ghi nhận thông tin, cấp mã định danh hệ thống AI và gửi xác nhận điện tử cho nhà cung cấp. Nghị định cũng nêu rõ cơ quan nhà nước không được yêu cầu bổ sung thêm thành phần hồ sơ ngoài quy định.

4. Quy định cụ thể về đánh dấu kỹ thuật và gắn nhãn nội dung do AI tạo ra

Điều 17 và Điều 18 Nghị định 142/2026/NĐ-CP quy định nhà cung cấp phải áp dụng giải pháp kỹ thuật để đánh dấu các nội dung do AI tạo ra hoặc chỉnh sửa như âm thanh, hình ảnh, video ở định dạng máy đọc. Việc đánh dấu có thể thực hiện thông qua siêu dữ liệu, chữ ký số hoặc phương thức kỹ thuật khác để nhận diện nội dung AI.

Đối với bên triển khai, Nghị định yêu cầu phải thông báo rõ ràng và gắn nhãn dễ nhận biết khi cung cấp ra công cộng nội dung AI có khả năng gây nhầm lẫn về tính xác thực, đặc biệt với các nội dung giả lập ngoại hình, giọng nói hoặc tái hiện sự kiện thực tế.

Việc gắn nhãn có thể thực hiện bằng nhiều hình thức như hiển thị trực tiếp trên nội dung, tiêu đề, chú thích, giao diện nền tảng hoặc phát thông báo bằng âm thanh. Một số trường hợp được miễn gắn nhãn gồm nội dung chỉnh sửa kỹ thuật, sửa lỗi chính tả, dịch thuật, tóm tắt hoặc nội dung dùng nội bộ, nghiên cứu thử nghiệm không công khai.

5. Phải báo cáo sự cố AI nghiêm trọng trong 72 giờ hoặc 05 ngày làm việc

Theo Điều 19 Nghị định 142/2026/NĐ-CP, sự cố nghiêm trọng của hệ thống AI là sự cố gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản, xâm phạm quyền con người hoặc ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và dịch vụ thiết yếu.

Khi xảy ra sự cố, bên triển khai và nhà cung cấp phải kịp thời ghi nhận, áp dụng biện pháp hạn chế hậu quả, phối hợp khắc phục và lưu giữ dữ liệu, nhật ký hệ thống phục vụ việc xử lý sự cố.

Nghị định quy định sự cố khẩn cấp phải báo cáo sơ bộ trong thời hạn 72 giờ kể từ thời điểm xác nhận sự cố. Đối với các sự cố nghiêm trọng còn lại, thời hạn báo cáo là 05 ngày làm việc. Sau đó phải gửi báo cáo chính thức trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nộp báo cáo sơ bộ.

bao-cao-su-co-AI
Phải báo cáo sự cố AI nghiêm trọng trong 72 giờ (Ảnh minh họa)

6. Nhà nước ưu tiên phát triển mô hình AI tiếng Việt và AI cho tiếng dân tộc thiểu số

Theo Điều 37 Nghị định 142/2026/NĐ-CP, Nhà nước ưu tiên thúc đẩy nghiên cứu, phát triển và làm chủ các công nghệ AI cốt lõi. Trong đó có mô hình AI đa dụng, mô hình nền tảng, mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt và mô hình AI cho tiếng dân tộc thiểu số.

Nghị định cũng ưu tiên phát triển công nghệ xử lý dữ liệu và ngôn ngữ Việt Nam, công nghệ bán dẫn, hạ tầng tính toán phục vụ AI và các giải pháp AI mã nguồn mở. Đồng thời, các tổ chức, cá nhân nghiên cứu và phát triển AI được tiếp cận cơ chế hỗ trợ và chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật về khoa học công nghệ, đầu tư và thuế.

7. Bắt buộc bảo đảm an ninh, an toàn dữ liệu và hạ tầng AI

Theo Điều 36 Nghị định 142/2026/NĐ-CP, cơ quan, tổ chức quản lý hoặc vận hành hạ tầng AI và cơ sở dữ liệu phục vụ AI phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật và quản lý để bảo đảm an ninh, an toàn hạ tầng và dữ liệu.

Các biện pháp phải bảo đảm tính bảo mật, toàn vẹn và khả dụng của dữ liệu; đồng thời phòng ngừa, phát hiện và xử lý rủi ro an ninh mạng, sự cố an toàn dữ liệu và các rủi ro đặc thù của AI như đầu độc dữ liệu hoặc tái nhận dạng dữ liệu cá nhân đã khử nhận dạng.

Nghị định cũng yêu cầu tổ chức, cá nhân khai thác dữ liệu phục vụ AI phải sử dụng dữ liệu đúng mục đích, đúng phạm vi và tuân thủ các điều kiện truy cập, khai thác đã được công bố hoặc thỏa thuận.

8. Quy định chuyển tiếp đối với hệ thống AI đã hoạt động trước 01/5/2026

Điều 46 Nghị định 142/2026/NĐ-CP quy định trong thời gian cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo chưa vận hành chính thức, việc thông báo và báo cáo theo Nghị định sẽ được thực hiện qua hệ thống điện tử hoặc dịch vụ công trực tuyến do Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.

Các thủ tục thực hiện trong giai đoạn chuyển tiếp vẫn có giá trị pháp lý tương đương với việc thực hiện trên cổng thông tin AI chính thức. Đồng thời, việc công khai thông tin sẽ được thực hiện trên cổng hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm công khai theo quy định.

Trên đây là những nội dung đáng chú ý nhất tại Nghị định 142/2026/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Trí tuệ nhân tạo.

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Từ 01/7/2026, trình tự, thủ tục quá cảnh người bị dẫn độ qua lãnh thổ Việt Nam thế nào?

Từ 01/7/2026, trình tự, thủ tục quá cảnh người bị dẫn độ qua lãnh thổ Việt Nam thế nào?

Từ 01/7/2026, trình tự, thủ tục quá cảnh người bị dẫn độ qua lãnh thổ Việt Nam thế nào?

Việc quá cảnh người bị dẫn độ qua lãnh thổ Việt Nam phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật và điều ước quốc tế. Bài viết dưới đây sẽ thông tin chi tiết về trình tự, thủ tục quá cảnh người bị dẫn độ qua lãnh thổ Việt Nam.

Rủi ro pháp lý khi nhái nhãn hiệu đã được bảo hộ sở hữu trí tuệ

Rủi ro pháp lý khi nhái nhãn hiệu đã được bảo hộ sở hữu trí tuệ

Rủi ro pháp lý khi nhái nhãn hiệu đã được bảo hộ sở hữu trí tuệ

Tình trạng xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hiện nay diễn biến ngày càng phức tạp, với số lượng vụ việc gia tăng. Các hành vi vi phạm không chỉ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu nhãn hiệu mà còn tác động tiêu cực đến môi trường cạnh tranh và quyền lợi người tiêu dùng. 

Cảnh báo lừa đảo công nghệ cao khi mua hàng online

Cảnh báo lừa đảo công nghệ cao khi mua hàng online

Cảnh báo lừa đảo công nghệ cao khi mua hàng online

Ủy ban Cạnh tranh quốc gia vừa phát đi cảnh báo về việc các đối tượng sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI), nội dung giả mạo bằng trí tuệ nhân tạo (deepfake) để giả mạo người nổi tiếng, chuyên gia, cơ quan chức năng nhằm quảng cáo sai sự thật, lừa đảo người tiêu dùng trên môi trường mạng.

Số tài khoản đóng kinh phí công đoàn của doanh nghiệp TPHCM

Số tài khoản đóng kinh phí công đoàn của doanh nghiệp TPHCM

Số tài khoản đóng kinh phí công đoàn của doanh nghiệp TPHCM

Doanh nghiệp tại TP.HCM khi thực hiện đóng kinh phí công đoàn cần nộp đúng số tài khoản do cơ quan công đoàn có thẩm quyền thông báo để bảo đảm khoản đóng được ghi nhận, hạch toán đầy đủ và tránh phát sinh sai sót trong quá trình thực hiện nghĩa vụ tài chính. Dưới đây là thông tin chi tiết.

Số tài khoản đóng kinh phí công đoàn của doanh nghiệp Hà Nội

Số tài khoản đóng kinh phí công đoàn của doanh nghiệp Hà Nội

Số tài khoản đóng kinh phí công đoàn của doanh nghiệp Hà Nội

Doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội khi thực hiện nghĩa vụ đóng kinh phí công đoàn cần nắm rõ số tài khoản tiếp nhận, đơn vị thụ hưởng và nội dung chuyển khoản để bảo đảm việc nộp kinh phí đúng quy định, tránh sai sót trong quá trình thực hiện. Dưới đây là thông tin chi tiết.

Không giúp người bị tai nạn giao thông: Có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Không giúp người bị tai nạn giao thông: Có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Không giúp người bị tai nạn giao thông: Có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Không giúp người bị tai nạn giao thông không chỉ là hành vi đáng trách về mặt đạo đức mà trong một số trường hợp còn có thể bị xử lý hình sự. Vậy khi nào việc không cứu giúp người gặp nạn bị truy cứu trách nhiệm hình sự và mức phạt ra sao?