Không phải mọi khu vực đều được xác định là địa bàn cần phổ cập dịch vụ viễn thông công ích. Thông tư 51/2026/TT-BKHCN đặt ra tiêu chí riêng đối với mạng di động mặt đất và Internet băng rộng cố định, tập trung vào những thôn, bản chưa có sóng, chất lượng truy nhập thấp hoặc chưa có hạ tầng Internet phù hợp.
- 1. Địa bàn được phổ cập dịch vụ viễn thông di động mặt đất
- 1.1. Thôn, bản chưa có sóng di động của bất kỳ doanh nghiệp nào
- 1.2. Khu vực đã có sóng nhưng chất lượng truy nhập Internet thấp vẫn có thể được phổ cập
- 1.3. Vị trí phổ cập được xác định bằng hệ thống VNNIC Internet Speed
- 2. Địa bàn được phổ cập dịch vụ truy nhập Internet băng rộng cố định
- 2.1. Thôn, bản chưa có hạ tầng Internet băng rộng cố định
- 2.2. Mạng di động và Internet cố định có tiêu chí xác định khác nhau
- 2.3. Các vị trí được xác định phải được đưa lên bản đồ số
- 3. Việc phổ cập ưu tiên lựa chọn công nghệ phù hợp với địa hình và dân cư
- 3.1. Công nghệ phải phù hợp với địa hình, dân cư và nhu cầu sử dụng
- 3.2. Hộ dân sống đơn lẻ hoặc khu vực bị chia cắt có thể dùng Internet vệ tinh
- 3.3. Có thể sử dụng thêm các công nghệ truy nhập khác
- 4. Địa phương có trách nhiệm xác định và lập danh sách khu vực cần phổ cập
- 4.1. Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì lập bản đồ số
- 4.2. Danh sách khu vực đề nghị phổ cập được lập theo Mẫu số 02
1. Địa bàn được phổ cập dịch vụ viễn thông di động mặt đất
1.1. Thôn, bản chưa có sóng di động của bất kỳ doanh nghiệp nào
Theo khoản 1 Điều 4 Thông tư 51/2026/TT-BKHCN, vị trí được phổ cập dịch vụ viễn thông di động mặt đất tại thôn, bản gồm:
“...tại trung tâm thôn có nhà văn hóa thôn hoặc khu vực có các hộ dân sinh sống liền kề tập trung đông dân cư nhất nhưng không có sóng di động mặt đất của doanh nghiệp viễn thông nào...”

Địa bàn được phổ cập dịch vụ viễn thông di động mặt đất (Ảnh minh họa)
Như vậy, địa bàn thuộc diện phổ cập nếu tại đó không có sóng di động mặt đất của bất kỳ doanh nghiệp viễn thông nào, có thể là:
- Trung tâm thôn, bản có nhà văn hóa thôn;
- Hoặc khu vực có các hộ dân sinh sống liền kề, tập trung đông dân cư nhất;
1.2. Khu vực đã có sóng nhưng chất lượng truy nhập Internet thấp vẫn có thể được phổ cập
Cũng theo khoản 1 Điều 4 Thông tư 51/2026/TT-BKHCN, trường hợp khu vực đã có sóng di động vẫn có thể được xác định là vị trí cần phổ cập nếu:
“...có sóng di động nhưng khi đo tốc độ truy nhập Internet thông qua trải nghiệm người dùng bằng công cụ i-Speed có chất lượng dịch vụ dưới mức công bố của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông di động mặt đất.”
Một khu vực đã có tín hiệu di động nhưng tốc độ truy nhập Internet thực tế, khi đo bằng i-Speed, thấp hơn mức chất lượng doanh nghiệp đã công bố vẫn có thể thuộc diện được xem xét phổ cập.
1.3. Vị trí phổ cập được xác định bằng hệ thống VNNIC Internet Speed
Theo khoản 2 Điều 4 Thông tư 51/2026/TT-BKHCN, việc xác định vị trí sử dụng Hệ thống đo tốc độ truy nhập Internet Việt Nam - VNNIC Internet Speed.
Hệ thống bao gồm:
- Ứng dụng i-Speed by VNNIC trên Android;
- Ứng dụng i-Speed trên iOS;
- Website speedtest.vn;
- Website i-speed.vn.
Các thông số được đo gồm:
- Tốc độ tải xuống;
- Tốc độ tải lên.
Kết quả đo được sử dụng để lập bản đồ số các vị trí được phổ cập dịch vụ viễn thông di động mặt đất.
2. Địa bàn được phổ cập dịch vụ truy nhập Internet băng rộng cố định
2.1. Thôn, bản chưa có hạ tầng Internet băng rộng cố định
Theo Điều 5 Thông tư 51/2026/TT-BKHCN, vị trí được phổ cập dịch vụ truy nhập Internet băng rộng cố định tại thôn, bản là:
“...trung tâm thôn có nhà văn hóa thôn hoặc các hộ dân sinh sống liền kề tập trung đông dân cư nhất không có hạ tầng viễn thông cung cấp dịch vụ truy nhập Internet băng rộng cố định của bất kỳ doanh nghiệp viễn thông nào.”
Như vậy, hai nhóm vị trí được xem xét gồm:
- Trung tâm thôn có nhà văn hóa;
- Khu vực có các hộ dân sống liền kề, tập trung đông dân cư nhất.
Điều kiện quan trọng là chưa có hạ tầng viễn thông cung cấp Internet băng rộng cố định của bất kỳ doanh nghiệp nào.
2.2. Mạng di động và Internet cố định có tiêu chí xác định khác nhau
Có thể thấy Thông tư 51/2026/TT-BKHCN sử dụng hai cách xác định khác nhau:
| Loại dịch vụ | Điều kiện chính để xác định vị trí cần phổ cập |
| Di động mặt đất | Không có sóng của doanh nghiệp nào; hoặc có sóng nhưng chất lượng Internet đo bằng i-Speed thấp hơn mức doanh nghiệp công bố |
| Internet băng rộng cố định | Chưa có hạ tầng viễn thông cung cấp Internet băng rộng cố định của bất kỳ doanh nghiệp nào |
Như vậy, với mạng di động, ngoài vùng hoàn toàn chưa có sóng còn xem xét cả chất lượng truy nhập thực tế. Trong khi đó, đối với Internet băng rộng cố định, tiêu chí tại Điều 5 tập trung vào việc khu vực đã có hay chưa có hạ tầng cung cấp dịch vụ.
2.3. Các vị trí được xác định phải được đưa lên bản đồ số
Điều 5 cũng quy định căn cứ vào vị trí được phổ cập Internet băng rộng cố định tại thôn, bản để lập bản đồ số theo điểm a khoản 1 Điều 7 Thông tư này.
Việc lập bản đồ số giúp xác định cụ thể:
- Thôn, bản thuộc diện phổ cập;
- Vị trí hộ dân;
- Vị trí cần phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông;
- Các khu vực khó khăn cần được hỗ trợ kết nối.
3. Việc phổ cập ưu tiên lựa chọn công nghệ phù hợp với địa hình và dân cư
3.1. Công nghệ phải phù hợp với địa hình, dân cư và nhu cầu sử dụng
Theo điểm a và điểm b khoản 1 Điều 3 Thông tư 51/2026/TT-BKHCN:
“Việc triển khai phổ cập dịch vụ viễn thông phải tuân thủ nguyên tắc trung lập công nghệ; không bắt buộc áp dụng một loại công nghệ duy nhất;”
Đồng thời, công nghệ và phương án triển khai phải phù hợp với:
- Đặc điểm địa hình;
- Phân bố dân cư;
- Nhu cầu sử dụng dịch vụ;
- Hiệu quả đầu tư.
Như vậy, sau khi xác định một khu vực thuộc diện cần phổ cập, giải pháp kỹ thuật có thể khác nhau tùy điều kiện thực tế.
3.2. Hộ dân sống đơn lẻ hoặc khu vực bị chia cắt có thể dùng Internet vệ tinh
Theo điểm đ khoản 1 Điều 3, dịch vụ băng rộng cố định vệ tinh được khuyến khích sử dụng kết hợp với băng rộng di động và băng rộng cố định, nhất là tại:
- Hộ dân sống đơn lẻ;
- Khu vực bị chia cắt bởi địa hình;
- Khu vực không khả thi để đầu tư trạm thu phát sóng di động;
- Khu vực không khả thi để đầu tư hạ tầng cáp quang.
Do đó, một địa bàn khó phủ sóng di động hoặc kéo cáp quang vẫn có thể được xem xét cung cấp dịch vụ bằng công nghệ vệ tinh hoặc giải pháp truy nhập phù hợp khác.
3.3. Có thể sử dụng thêm các công nghệ truy nhập khác
Theo điểm e khoản 1 Điều 3 Thông tư 51/2026/TT-BKHCN, doanh nghiệp được khuyến khích nghiên cứu sử dụng:
- Fixed Wireless Access - FWA;
- Wi-Fi Point-to-Multipoint;
- Wi-Fi Mesh;
- Microwave;
- Các giải pháp truyền dẫn vô tuyến khác;
- Công nghệ mới phù hợp xu hướng quốc tế. Thông-tư-51-2026-TT-BKHCN
Quy định này cho phép đa dạng hóa giải pháp để đưa dịch vụ đến những khu vực có điều kiện địa hình, dân cư khác nhau.
4. Địa phương có trách nhiệm xác định và lập danh sách khu vực cần phổ cập
4.1. Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì lập bản đồ số
Theo điểm a khoản 1 Điều 7 Thông tư 51/2026/TT-BKHCN, UBND tỉnh, thành phố chỉ đạo Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp với doanh nghiệp viễn thông trên địa bàn lập bản đồ số gồm:
- Vị trí thôn, bản hoặc vị trí khác thuộc khu vực khó khăn được phổ cập dịch vụ;
- Vị trí các hộ dân;
- Vị trí phát triển hạ tầng viễn thông;
- Số hộ dân;
- Số dân trong thôn, bản.
Như vậy, việc xác định địa bàn không chỉ dừng ở tên thôn, bản mà còn gắn với tọa độ, hộ dân và vị trí dự kiến phát triển hạ tầng.
4.2. Danh sách khu vực đề nghị phổ cập được lập theo Mẫu số 02
Phụ lục ban hành kèm Thông tư 51/2026/TT-BKHCN quy định Mẫu số 02 - Danh sách khu vực đề nghị phổ cập dịch vụ viễn thông. Mẫu này thể hiện các thông tin như:
- Tên thôn;
- Tên chủ hộ;
- Địa chỉ;
- Số nhân khẩu;
- Số điện thoại chủ hộ nếu có;
- Kinh độ;
- Vĩ độ;
- Thông tin khác.
Sở Khoa học và Công nghệ lập Mẫu số 02 và gửi Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam kèm các văn bản thống nhất của doanh nghiệp viễn thông trên địa bàn về hiện trạng phủ sóng hoặc hiện trạng Internet băng rộng cố định.
Trên đây là thông tin về những địa bàn được phổ cập mạng di động và truy nhập Internet. Vui lòng xem chi tiết Thông tư 51/2026/TT-BKHCN trên LuatVietnam.vn và các tính năng liên quan như: Tình trạng hiệu lực, Lược đồ...
RSS