Trong thời gian chờ xuất cảnh, người bị trục xuất đang ở tại cơ sở lưu trú có thể đề nghị chuyển đến nơi cư trú hợp pháp của thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp tại Việt Nam. Vậy người bị trục xuất xin chuyển từ cơ sở lưu trú chờ xuất cảnh về ở cùng thân nhân cần thủ tục gì?
- 1. Thủ tục xin chuyển từ cơ sở lưu trú chờ xuất cảnh về ở cùng thân nhân
- 1.1. Điều kiện đề nghị chuyển về ở cùng thân nhân
- 1.2. Hồ sơ xin thay đổi nơi lưu trú
- Thứ nhất, đơn xin thay đổi nơi lưu trú của người bị trục xuất.
- Thứ hai, đơn đề nghị cho người lưu trú được thay đổi nơi lưu trú của thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp.
- 1.3. Nơi nộp hồ sơ và thời hạn giải quyết
- 2. Các trường hợp không được xem xét cho thay đổi nơi lưu trú
- 2.1. Các trường hợp thuộc diện không xem xét theo quy định pháp luật
- Thứ nhất, các trường hợp quy định tại điểm a, d, đ, e khoản 5 Điều 13 Nghị định 59/2026/NĐ-CP
- Thứ hai, các trường hợp quy định tại điểm b, d, đ, e khoản 2 Điều 119 Luật Thi hành án hình sự 2025
- Thứ ba, các trường hợp khác được quy định trực tiếp tại khoản 2 Điều 25 Nghị định 249/2026/NĐ-CP
- 2.2. Người lưu trú đang bị điều tra, truy nã hoặc có yêu cầu chưa cho ra khỏi cơ sở lưu trú
- 3. Trách nhiệm sau khi được phép chuyển về ở cùng thân nhân
- 3.1. Thông báo quyết định thay đổi nơi lưu trú đến các cơ quan liên quan
- 3.2. Trường hợp người lưu trú phải quay trở lại cơ sở lưu trú
- 3.3. Trách nhiệm bảo lãnh khi người lưu trú còn nghĩa vụ bồi thường dân sự

1. Thủ tục xin chuyển từ cơ sở lưu trú chờ xuất cảnh về ở cùng thân nhân
1.1. Điều kiện đề nghị chuyển về ở cùng thân nhân
Khoản 1 Điều 25 Nghị định 249/2026/NĐ-CP quy định:
“Người lưu trú có nguyện vọng và thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp có nơi cư trú hợp pháp trên lãnh thổ Việt Nam có đề nghị cho người lưu trú được lưu trú tại đó, thì người lưu trú viết đơn theo Mẫu số 04 và thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp của người lưu trú phải có đơn đề nghị theo Mẫu số 05 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này; đơn phải viết bằng tiếng Việt hoặc được dịch ra tiếng Việt gửi Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi lập hồ sơ thi hành án để xem xét, quyết định.”
Theo quy định này, việc đề nghị chuyển từ cơ sở lưu trú về ở cùng thân nhân cần đáp ứng các yêu cầu:
- Người lưu trú có nguyện vọng thay đổi nơi lưu trú: Người bị trục xuất đang lưu trú tại cơ sở lưu trú có nhu cầu chuyển đến ở tại nơi cư trú của thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp.
- Thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp có nơi cư trú hợp pháp tại Việt Nam: Nơi dự kiến chuyển đến phải là nơi cư trú hợp pháp trên lãnh thổ Việt Nam của thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp.
- Có đề nghị tiếp nhận người lưu trú: Thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp phải có đơn đề nghị cho người lưu trú được đến ở tại nơi cư trú của mình.
Như vậy, việc chuyển nơi lưu trú không chỉ căn cứ vào nguyện vọng của người bị trục xuất mà còn phải có đề nghị của thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp có nơi cư trú hợp pháp tại Việt Nam.
1.2. Hồ sơ xin thay đổi nơi lưu trú
Theo khoản 1 Điều 25 Nghị định 249/2026/NĐ-CP, hồ sơ đề nghị thay đổi nơi lưu trú gồm hai loại đơn.
Thứ nhất, đơn xin thay đổi nơi lưu trú của người bị trục xuất.
Người lưu trú lập đơn theo Mẫu số 04 – Đơn xin thay đổi nơi lưu trú, ban hành tại Phụ lục Nghị định 249/2026/NĐ-CP.
Theo nội dung Mẫu số 04, người làm đơn phải cung cấp các thông tin chủ yếu sau:
- Họ tên, giới tính, ngày sinh, quốc tịch;
- Số hộ chiếu, căn cước hoặc căn cước công dân, ngày cấp, nơi cấp;
- Nơi đăng ký thường trú;
- Ngày vào cơ sở lưu trú, số và ngày của quyết định đưa vào cơ sở lưu trú, lý do đưa vào cơ sở lưu trú;
- Địa chỉ nơi đề nghị chuyển đến lưu trú;
- Thông tin về người có nơi cư trú hợp pháp cho lưu trú và mối quan hệ với người này;
- Lý do đề nghị thay đổi nơi lưu trú;
- Nội dung cam kết khi được thay đổi nơi lưu trú.
Thứ hai, đơn đề nghị cho người lưu trú được thay đổi nơi lưu trú của thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp.
Thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp lập đơn theo Mẫu số 05 – Đơn đề nghị cho người lưu trú được thay đổi nơi lưu trú tại Phụ lục Nghị định 249/2026/NĐ-CP.
Theo Mẫu số 05, đơn có những nội dung chủ yếu:
- Thông tin nhân thân của người làm đơn;
- Mối quan hệ với người lưu trú;
- Thông tin về người lưu trú được đề nghị tiếp nhận;
- Địa chỉ nơi cư trú dự kiến tiếp nhận người lưu trú;
- Lý do đề nghị;
- Nội dung cam kết khi người lưu trú được thay đổi nơi lưu trú.
Mẫu đơn còn có phần xác nhận của Công an hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người lưu trú đến lưu trú và các nội dung xác nhận khác theo mẫu.
Về ngôn ngữ sử dụng, khoản 1 Điều 25 Nghị định yêu cầu các đơn phải được viết bằng tiếng Việt hoặc dịch ra tiếng Việt.
Như vậy, người bị trục xuất và thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp phải lập đơn theo đúng mẫu tương ứng, thay vì chỉ có một bên làm đơn đề nghị.
1.3. Nơi nộp hồ sơ và thời hạn giải quyết
Sau khi chuẩn bị đơn theo quy định, khoản 1 Điều 25 Nghị định 249/2026/NĐ-CP xác định cơ quan tiếp nhận, xem xét là:
Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi lập hồ sơ thi hành án.
Theo khoản 3 Điều 25 Nghị định 249/2026/NĐ-CP:
“Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ khi nhận được đơn đề nghị, Thủ trưởng các cơ quan quy định tại khoản 1 Điều này phải quyết định việc cho hay không cho người lưu trú thay đổi nơi lưu trú và phải thông báo bằng văn bản cho người có đơn đề nghị;”
Theo đó, thủ tục được thực hiện như sau:
Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ.
Người lưu trú lập đơn theo Mẫu số 04; thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp lập đơn theo Mẫu số 05.
Bước 2: Gửi hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền.
Hồ sơ được gửi đến Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi lập hồ sơ thi hành án để xem xét, quyết định.
Bước 3: Tiếp nhận kết quả giải quyết.
Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn đề nghị, cơ quan có thẩm quyền quyết định cho phép hoặc không cho phép thay đổi nơi lưu trú.
Kết quả giải quyết phải được thông báo bằng văn bản cho người có đơn đề nghị. Trường hợp không đồng ý cho thay đổi nơi lưu trú, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
2. Các trường hợp không được xem xét cho thay đổi nơi lưu trú
Không phải tất cả người bị trục xuất đang ở tại cơ sở lưu trú đều được xem xét cho chuyển về ở cùng thân nhân. Khoản 2 Điều 25 Nghị định 249/2026/NĐ-CP quy định những trường hợp không xem xét giải quyết đề nghị thay đổi nơi lưu trú.
2.1. Các trường hợp thuộc diện không xem xét theo quy định pháp luật
Khoản 2 Điều 25 Nghị định 249/2026/NĐ-CP quy định:
“Không xem xét giải quyết các trường hợp người lưu trú thuộc điểm a, d, đ, e khoản 5 Điều 13 Nghị định số 59/2026/NĐ-CP quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất; điểm b, d, đ, e khoản 2 Điều 119 Luật Thi hành án hình sự hoặc người lưu trú vi phạm pháp luật, bị các cơ quan chức năng Việt Nam hoặc nước ngoài đang điều tra, truy nã hoặc có văn bản đề nghị chưa cho ra khỏi cơ sở lưu trú.”
Theo quy định trên, những trường hợp không được xem xét giải quyết đề nghị thay đổi nơi lưu trú bao gồm:
Thứ nhất, các trường hợp quy định tại điểm a, d, đ, e khoản 5 Điều 13 Nghị định 59/2026/NĐ-CP
- Không có hộ chiếu hoặc các giấy tờ thay thế hộ chiếu, chưa có đủ các điều kiện cần thiết để thực hiện việc trục xuất;
- Có hành vi vi phạm pháp luật hoặc có căn cứ cho rằng người đó có thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian chờ xuất cảnh;
- Có hành vi bỏ trốn, chuẩn bị bỏ trốn hoặc hành vi khác gây khó khăn cho việc thi hành quyết định trục xuất;
- Mắc bệnh truyền nhiễm theo quy định của pháp luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm phải tổ chức cách ly y tế.
Thứ hai, các trường hợp quy định tại điểm b, d, đ, e khoản 2 Điều 119 Luật Thi hành án hình sự 2025
- Nhập cảnh trái phép hoặc phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng;
- Có hành vi vi phạm pháp luật hoặc có căn cứ cho rằng người đó có thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian chờ xuất cảnh;
- Có hành vi bỏ trốn, chuẩn bị bỏ trốn hoặc hành vi khác gây khó khăn cho việc thi hành án phạt trục xuất;
- Mắc bệnh truyền nhiễm nhóm A.
Thứ ba, các trường hợp khác được quy định trực tiếp tại khoản 2 Điều 25 Nghị định 249/2026/NĐ-CP
- Người lưu trú vi phạm pháp luật;
- Người lưu trú đang bị các cơ quan chức năng Việt Nam hoặc nước ngoài điều tra, truy nã;
- Người lưu trú có văn bản đề nghị chưa cho ra khỏi cơ sở lưu trú.
Người lưu trú thuộc một trong các trường hợp nêu trên sẽ không được xem xét giải quyết đề nghị chuyển từ cơ sở lưu trú về ở cùng thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp trong thời gian chờ xuất cảnh.
2.2. Người lưu trú đang bị điều tra, truy nã hoặc có yêu cầu chưa cho ra khỏi cơ sở lưu trú
Bên cạnh các trường hợp được dẫn chiếu, khoản 2 Điều 25 Nghị định 249/2026/NĐ-CP quy định trực tiếp những trường hợp liên quan đến tình trạng pháp lý của người lưu trú.
Cụ thể, không xem xét giải quyết đề nghị thay đổi nơi lưu trú đối với người lưu trú:
- Vi phạm pháp luật;
- Đang bị cơ quan chức năng của Việt Nam hoặc nước ngoài điều tra;
- Đang bị truy nã;
- Có văn bản của cơ quan chức năng đề nghị chưa cho ra khỏi cơ sở lưu trú.
Như vậy, đối với các trường hợp thuộc diện không xem xét theo khoản 2 Điều 25, người lưu trú không được giải quyết đề nghị chuyển về nơi cư trú của thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp theo thủ tục này.
Việc không xem xét giải quyết được xác định theo các căn cứ cụ thể, không phụ thuộc đơn thuần vào việc thân nhân có nơi cư trú hợp pháp hoặc đồng ý tiếp nhận người lưu trú.
3. Trách nhiệm sau khi được phép chuyển về ở cùng thân nhân
3.1. Thông báo quyết định thay đổi nơi lưu trú đến các cơ quan liên quan
Theo khoản 3 Điều 25 Nghị định 249/2026/NĐ-CP, trường hợp đồng ý cho thay đổi nơi lưu trú, cơ quan có thẩm quyền phải thông báo bằng văn bản cho:
- Cơ sở lưu trú;
- Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi người lưu trú đến lưu trú;
- Các cơ quan quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị định 249/2026/NĐ-CP.
Việc cho phép người lưu trú chuyển về ở cùng thân nhân phải được thông báo đến cơ sở lưu trú đang quản lý người đó và cơ quan tại địa phương nơi tiếp nhận.
Đồng thời, khoản 3 Điều 25 cũng quy định:
“Sau khi cho phép người lưu trú thay đổi nơi lưu trú thì thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp phải có trách nhiệm đưa người lưu trú đến Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã báo cáo việc người lưu trú đến lưu trú trong thời gian chờ xuất cảnh.”
Do đó, sau khi được chấp thuận, thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp phải đưa người lưu trú đến Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã để báo cáo việc đến lưu trú.
3.2. Trường hợp người lưu trú phải quay trở lại cơ sở lưu trú
Khoản 3 Điều 25 Nghị định 249/2026/NĐ-CP quy định:
“Trong quá trình lưu trú, có căn cứ cho rằng người lưu trú buộc phải lưu trú tại cơ sở lưu trú của Bộ Công an thì Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh phải quyết định thay đổi nơi lưu trú, buộc người lưu trú quay lại lưu trú tại cơ sở lưu trú.”
Theo quy định, việc được phép chuyển về ở cùng thân nhân không loại trừ trường hợp phải quay trở lại cơ sở lưu trú.
Cụ thể:
- Khi phát sinh căn cứ buộc người lưu trú phải ở tại cơ sở lưu trú của Bộ Công an;
- Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh quyết định thay đổi nơi lưu trú;
- Người lưu trú phải quay lại cơ sở lưu trú theo quyết định.
Người bị trục xuất được phép chuyển về ở cùng thân nhân vẫn phải tuân thủ quyết định quản lý nơi lưu trú của cơ quan có thẩm quyền trong thời gian chờ xuất cảnh.
3.3. Trách nhiệm bảo lãnh khi người lưu trú còn nghĩa vụ bồi thường dân sự
Khoản 4 Điều 25 Nghị định 249/2026/NĐ-CP quy định riêng đối với người nước ngoài đã chấp hành xong án phạt tù nhưng còn phải bồi thường dân sự hoặc nộp các khoản tiền, tài sản theo quyết định của Tòa án.
Trong trường hợp này, người lưu trú ngoài đơn xin thay đổi nơi lưu trú phải có đơn cam kết thực hiện nghĩa vụ bồi thường, nộp các khoản tiền, tài sản.
Đồng thời, thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp phải:
- Có đơn đề nghị tiếp nhận người lưu trú;
- Làm thủ tục bảo lãnh đối với người lưu trú về việc thực hiện nghĩa vụ bồi thường dân sự, nộp các khoản tiền, tài sản.
Việc bảo lãnh được thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự trong trường hợp người lưu trú không thực hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ theo cam kết hoặc bỏ trốn.
Trên đây là thông tin về thủ tục xin chuyển từ cơ sở lưu trú chờ xuất cảnh về ở cùng thân nhân. Để tìm hiểu đầy đủ các quy định về quản lý, thay đổi nơi lưu trú và chế độ đối với người bị trục xuất, vui lòng truy cập Nghị định 249/2026/NĐ-CP trên LuatVietnam.vn cùng các tiện ích như Tình trạng hiệu lực và Lược đồ văn bản.
RSS