Trong thời gian chờ làm thủ tục xuất cảnh, người bị trục xuất được bố trí nơi lưu trú và bảo đảm các điều kiện sinh hoạt theo quy định.Vậy người bị trục xuất chờ xuất cảnh được bố trí chỗ ở thế nào? Những ai được bố trí ở riêng?
- 1. Chế độ chỗ ở đối với người bị trục xuất trong thời gian chờ xuất cảnh
- 1.1. Người lưu trú được bố trí ở buồng tập thể theo giới tính
- 1.2. Phụ nữ có thai và người có con ở cùng được bố trí diện tích lớn hơn
- 1.3. Điều kiện sinh hoạt tại cơ sở lưu trú
- 2. Các trường hợp được bố trí ở riêng trong thời gian lưu trú
- 2.1. Người đồng tính, người chuyển đổi giới tính và người chưa xác định rõ giới tính
- 2.2. Người mắc bệnh truyền nhiễm hoặc bệnh ảnh hưởng đến khả năng nhận thức, điều khiển hành vi
- Thứ nhất, người mắc bệnh truyền nhiễm thuộc diện quy định.
- Thứ hai, người mắc bệnh ảnh hưởng đến khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi.
- 2.3. Trẻ em từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi lưu trú cùng cha, mẹ nhưng khác giới tính
- 3. Quy định về chỉ định nơi lưu trú và quản lý người bị trục xuất chờ xuất cảnh
- 3.1. Thời hạn và thẩm quyền chỉ định nơi lưu trú
- 3.2. Nguyên tắc quản lý người lưu trú tại cơ sở lưu trú
- 3.3. Bố trí phòng riêng đối với người lưu trú vi phạm nội quy

1. Chế độ chỗ ở đối với người bị trục xuất trong thời gian chờ xuất cảnh
1.1. Người lưu trú được bố trí ở buồng tập thể theo giới tính
Khoản 1 Điều 14 Nghị định 249/2026/NĐ-CP quy định:
“Người lưu trú được bố trí ở buồng tập thể theo giới tính (nam, nữ); diện tích chỗ nằm tối thiểu là 03 m2/người (người lưu trú có con ở cùng hoặc phụ nữ có thai thì được bố trí chỗ nằm tối thiểu là 04 m2), có bệ gạch men hoặc giường, có phòng vệ sinh, có chiếu, chăn và màn.”
Theo đó, chế độ chỗ ở thông thường đối với người bị trục xuất đang lưu trú tại cơ sở lưu trú trong thời gian chờ xuất cảnh được thực hiện như sau:
- Hình thức bố trí: Ở buồng tập thể theo giới tính nam, nữ.
- Diện tích chỗ nằm tối thiểu: 03 m²/người.
- Trang bị chỗ nằm: Có bệ gạch men hoặc giường.
- Điều kiện sinh hoạt: Có phòng vệ sinh, chiếu, chăn và màn.
Như vậy, người lưu trú được bố trí ở tập trung theo giới tính, đồng thời được bảo đảm diện tích chỗ nằm và các trang bị sinh hoạt cơ bản theo quy định.
1.2. Phụ nữ có thai và người có con ở cùng được bố trí diện tích lớn hơn
Bên cạnh diện tích chỗ nằm thông thường, khoản 1 Điều 14 Nghị định 249/2026/NĐ-CP quy định mức diện tích riêng đối với hai nhóm:
- Người lưu trú có con ở cùng;
- Người lưu trú là phụ nữ có thai.
Diện tích chỗ nằm tối thiểu đối với các trường hợp này là 04 m²/người, cao hơn 01 m² so với mức tối thiểu áp dụng cho người lưu trú thông thường. Có thể phân biệt diện tích chỗ nằm như sau:
|
Đối tượng |
Diện tích chỗ nằm tối thiểu |
|
Người lưu trú thông thường |
03 m²/người |
|
Người lưu trú có con ở cùng |
04 m²/người |
|
Phụ nữ có thai |
04 m²/người |
1.3. Điều kiện sinh hoạt tại cơ sở lưu trú
Ngoài việc bảo đảm chỗ nằm, khoản 1 Điều 14 Nghị định 249/2026/NĐ-CP còn yêu cầu nơi ở của người lưu trú phải có:
- Bệ gạch men hoặc giường;
- Phòng vệ sinh;
- Chiếu;
- Chăn;
- Màn.
Đây là những trang bị được quy định trực tiếp trong chế độ ở đối với người lưu trú tại cơ sở lưu trú.
Bên cạnh đó, theo Điều 16 Nghị định 249/2026/NĐ-CP, người lưu trú được tham gia hoạt động thể dục, thể thao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, đọc sách, báo, nghe đài và xem truyền hình phù hợp với điều kiện của cơ sở lưu trú.
Cụ thể, cơ sở lưu trú được trang bị một hệ thống truyền thanh nội bộ; mỗi phòng ở được trang bị 01 ti vi và người lưu trú được mượn sách, báo của cơ sở lưu trú. Thời gian thực hiện các hoạt động này phải tuân thủ Nội quy cơ sở lưu trú.
2. Các trường hợp được bố trí ở riêng trong thời gian lưu trú
2.1. Người đồng tính, người chuyển đổi giới tính và người chưa xác định rõ giới tính
Theo khoản 1 Điều 14 Nghị định 249/2026/NĐ-CP:
“Người lưu trú là người đồng tính, người chuyển đổi giới tính, người chưa xác định rõ giới tính có thể được bố trí ở riêng.”
Theo đó, có ba nhóm đối tượng có thể được bố trí ở riêng, gồm:
- Người đồng tính;
- Người chuyển đổi giới tính;
- Người chưa xác định rõ giới tính.
2.2. Người mắc bệnh truyền nhiễm hoặc bệnh ảnh hưởng đến khả năng nhận thức, điều khiển hành vi
Khoản 2 Điều 14 Nghị định 249/2026/NĐ-CP quy định:
“Người lưu trú mắc bệnh truyền nhiễm nhóm A và một số bệnh truyền nhiễm nhóm B theo quy định của pháp luật về phòng, chống bệnh truyền nhiễm hoặc người mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình phải được bố trí ở riêng trong phòng cách ly.”
Theo quy định trên, những trường hợp phải được bố trí ở riêng trong phòng cách ly gồm:
Thứ nhất, người mắc bệnh truyền nhiễm thuộc diện quy định.
Bao gồm:
- Người mắc bệnh truyền nhiễm nhóm A;
- Người mắc một số bệnh truyền nhiễm nhóm B theo pháp luật về phòng, chống bệnh truyền nhiễm.
Thứ hai, người mắc bệnh ảnh hưởng đến khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi.
Bao gồm:
- Người mắc bệnh tâm thần làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;
- Người mắc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.
Đối với các trường hợp trên, bắt buộc phải bố trí ở riêng trong phòng cách ly.
2.3. Trẻ em từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi lưu trú cùng cha, mẹ nhưng khác giới tính
Ngoài những trường hợp nêu tại Điều 14, khoản 2 Điều 21 Nghị định 249/2026/NĐ-CP quy định:
“Trẻ em từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi là con của người lưu trú ở cùng cha, mẹ tại cơ sở lưu trú nhưng khác giới tính với cha, mẹ thì con của người lưu trú và người lưu trú có thể được bố trí ở riêng.”
Theo đó, việc bố trí ở riêng có thể được áp dụng khi đáp ứng các điều kiện:
- Trẻ em từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi;
- Là con của người lưu trú, đang ở cùng cha hoặc mẹ tại cơ sở lưu trú;
- Trẻ có giới tính khác với cha hoặc mẹ đang cùng lưu trú.
Đối với trường hợp này, Nghị định quy định trẻ em và người lưu trú có thể được bố trí ở riêng. Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 21 quy định trẻ em dưới 16 tuổi là con của người lưu trú ở cùng cha, mẹ tại cơ sở lưu trú được bố trí diện tích chỗ nằm cùng phòng với cha, mẹ, phù hợp với điều kiện thực tế và đặc điểm lứa tuổi, giới tính.
3. Quy định về chỉ định nơi lưu trú và quản lý người bị trục xuất chờ xuất cảnh
Bên cạnh chế độ chỗ ở tại cơ sở lưu trú, Nghị định 249/2026/NĐ-CP còn quy định về việc chỉ định nơi lưu trú và quản lý người bị trục xuất trong thời gian chờ xuất cảnh.
3.1. Thời hạn và thẩm quyền chỉ định nơi lưu trú
Theo khoản 1 Điều 7 Nghị định 249/2026/NĐ-CP:
“Trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày lập hồ sơ thi hành án, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi lập hồ sơ thi hành án phải ra quyết định chỉ định nơi lưu trú đối với người bị trục xuất trong thời gian chờ xuất cảnh.”
Theo đó, việc chỉ định nơi lưu trú được thực hiện như sau:
- Cơ quan quyết định: Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi lập hồ sơ thi hành án.
- Thời hạn: Trong vòng 03 ngày làm việc kể từ ngày lập hồ sơ thi hành án.
- Yêu cầu đối với nơi lưu trú: Có địa chỉ rõ ràng, bảo đảm thuận tiện cho việc quản lý, giám sát.
Cũng theo khoản 1 Điều 7 Nghị định, không được sử dụng buồng tạm giữ, buồng tạm giam của phân trại tạm giam khu vực, trại tạm giam hoặc nhà giam của trại giam để quản lý người bị trục xuất trong thời gian chờ xuất cảnh.
3.2. Nguyên tắc quản lý người lưu trú tại cơ sở lưu trú
Khoản 1 Điều 12 Nghị định 249/2026/NĐ-CP quy định:
“Người lưu trú phải ở tập trung tại cơ sở lưu trú và chịu sự quản lý, giám sát của cơ sở lưu trú, được phổ biến Nội quy cơ sở lưu trú và các quy định của pháp luật về quản lý và thực hiện các chế độ đối với người lưu trú.”
Theo đó, người được đưa vào cơ sở lưu trú phải tuân thủ việc quản lý, giám sát của cơ sở lưu trú.
Cơ sở lưu trú có trách nhiệm:
- Tiếp nhận, quản lý người có quyết định đưa vào cơ sở lưu trú;
- Phổ biến Nội quy cơ sở lưu trú và các quy định pháp luật liên quan;
- Thực hiện các biện pháp canh gác, dẫn giải, quản lý người lưu trú;
- Bảo đảm an toàn cơ sở lưu trú;
- Thực hiện việc bàn giao người lưu trú ra khỏi cơ sở lưu trú theo quy định.
3.3. Bố trí phòng riêng đối với người lưu trú vi phạm nội quy
Bên cạnh các trường hợp được bố trí ở riêng theo Điều 14 và Điều 21, khoản 1 Điều 13 Nghị định 249/2026/NĐ-CP còn quy định việc bố trí phòng riêng khi xử lý người lưu trú vi phạm Nội quy cơ sở lưu trú.
Cụ thể, nếu người lưu trú vi phạm nội quy, chống đối hoặc không chấp hành sự hướng dẫn của cán bộ cơ sở lưu trú thì phải lập biên bản, có người chứng kiến. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cán bộ cơ sở lưu trú giải thích quy định pháp luật, yêu cầu người lưu trú chấp hành nội quy và mệnh lệnh của cán bộ.
Trường hợp cần thiết, cán bộ cơ sở lưu trú được sử dụng các biện pháp theo quy định pháp luật để khống chế, bố trí người lưu trú ở phòng riêng nhằm:
- Vô hiệu hóa hành vi chống đối;
- Phòng ngừa, ngăn chặn người lưu trú bỏ trốn;
- Ngăn chặn hành vi gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của bản thân hoặc người khác;
- Ngăn chặn hành vi hủy hoại tài sản của cơ sở lưu trú hoặc của người khác.
Theo khoản 1 Điều 13, thời gian quản lý tại phòng riêng do Trưởng cơ sở lưu trú quyết định.
Trên đây là thông tin về chế độ chỗ ở và các trường hợp được bố trí ở riêng đối với người bị trục xuất trong thời gian chờ xuất cảnh. Để tìm hiểu chi tiết những quy định về quản lý, chế độ sinh hoạt và quyền lợi của người lưu trú, vui lòng truy cập Nghị định 249/2026/NĐ-CP trên LuatVietnam.vn cùng các tiện ích như Tình trạng hiệu lực và Lược đồ văn bản.
RSS