Doanh nghiệp tại Việt Nam có Công ty mẹ tối cao ở nước ngoài không phải trong mọi trường hợp đều trực tiếp nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia tại Việt Nam. Vậy doanh nghiệp có công ty mẹ tối cao ở nước ngoài phải nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia tại Việt Nam trong trường hợp nào?
- 1. Doanh nghiệp có công ty mẹ tối cao ở nước ngoài phải nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia tại Việt Nam trong trường hợp nào?
- 2. Ngưỡng doanh thu của Công ty mẹ tối cao được xác định thế nào?
- 3. 3 trường hợp doanh nghiệp phải nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia tại Việt Nam
- 3.1. Công ty mẹ tối cao không có nghĩa vụ nộp báo cáo tại nước nơi cư trú
- 3.2. Chưa có cơ chế trao đổi Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia với Việt Nam
- 3.3. Có thỏa thuận nhưng xảy ra tình trạng không thực hiện trao đổi thông tin một cách hệ thống
- 4. Trường hợp nào doanh nghiệp tại Việt Nam không phải trực tiếp nộp báo cáo?
- 4.1. Báo cáo của Công ty mẹ tối cao được tự động trao đổi cho Việt Nam
- 4.2. Công ty mẹ tối cao chỉ định một tổ chức khác nộp thay ở nước ngoài
- 5. Công ty mẹ tối cao chỉ định doanh nghiệp tại Việt Nam nộp báo cáo thì xử lý thế nào?
- 6. Thời hạn nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia là bao lâu?
1. Doanh nghiệp có công ty mẹ tối cao ở nước ngoài phải nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia tại Việt Nam trong trường hợp nào?
Theo khoản 2 Điều 19 Nghị định 255/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp tại Việt Nam phải có Công ty mẹ tối cao ở nước ngoài thuộc tập đoàn có doanh thu hợp nhất toàn cầu của năm tài chính liền kề trước năm báo cáo tương đương từ 750 triệu Euro trở lên.
Khi thuộc phạm vi này, doanh nghiệp phải nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia cho cơ quan thuế Việt Nam nếu rơi vào một trong 03 trường hợp:
- Công ty mẹ tối cao không có nghĩa vụ lập và nộp báo cáo tại nước, vùng lãnh thổ nơi cư trú;
- Nước, vùng lãnh thổ nơi Công ty mẹ tối cao cư trú có điều ước quốc tế về thuế hoặc thỏa thuận quốc tế với Việt Nam nhưng chưa có Thỏa thuận của Nhà chức trách có thẩm quyền có hiệu lực với Việt Nam khi đến hạn nộp;
- Đã có Thỏa thuận của Nhà chức trách có thẩm quyền nhưng xảy ra tình trạng không thực hiện trao đổi thông tin một cách hệ thống và doanh nghiệp tại Việt Nam đã được thông báo về tình trạng này.
Ngoài ra, nếu doanh nghiệp tại Việt Nam được Công ty mẹ tối cao chỉ định là tổ chức thay mặt nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia, doanh nghiệp được chỉ định cũng có trách nhiệm lập và nộp báo cáo tại Việt Nam.

2. Ngưỡng doanh thu của Công ty mẹ tối cao được xác định thế nào?
Khoản 2 Điều 19 Nghị định 255/2026/NĐ-CP xác định nghĩa vụ liên quan đến Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia trên cơ sở doanh thu hợp nhất toàn cầu trong năm tài chính liền kề trước năm báo cáo của Công ty mẹ tối cao ở nước ngoài.
Đây là doanh thu hợp nhất toàn cầu của tập đoàn, không phải doanh thu riêng của doanh nghiệp tại Việt Nam.
Đối với việc quy đổi để xác định ngưỡng doanh thu, khoản 6 Điều 19 Nghị định 255/2026/NĐ-CP quy định tỷ giá ngoại tệ được xác định theo:
- Tỷ giá trung tâm; hoặc
- Trung bình tỷ giá tính chéo của tháng 12 năm liền kề trước năm báo cáo được tham chiếu, do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố.
Sau khi xác định doanh nghiệp thuộc phạm vi phải thực hiện nghĩa vụ liên quan đến Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia, cần tiếp tục xem xét báo cáo của Công ty mẹ tối cao có được lập và trao đổi với cơ quan thuế Việt Nam hay không để xác định doanh nghiệp tại Việt Nam có trực tiếp phải nộp báo cáo.
3. 3 trường hợp doanh nghiệp phải nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia tại Việt Nam
Điểm b khoản 2 Điều 19 Nghị định 255/2026/NĐ-CP quy định người nộp thuế tại Việt Nam chỉ phải nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia cho cơ quan thuế khi thuộc một trong 03 trường hợp sau:
3.1. Công ty mẹ tối cao không có nghĩa vụ nộp báo cáo tại nước nơi cư trú
Trường hợp thứ nhất là Công ty mẹ tối cao không có nghĩa vụ lập và nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia tại quốc gia, vùng lãnh thổ nơi Công ty mẹ tối cao là đối tượng cư trú.
Tuy nhiên, Nghị định còn quy định một ngoại lệ đối với trường hợp này.
Cụ thể, doanh nghiệp tại Việt Nam không phải nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia cho cơ quan thuế nếu Công ty mẹ tối cao không có nghĩa vụ lập, nộp báo cáo tại nước nơi cư trú do doanh thu hợp nhất toàn cầu của tập đoàn thấp hơn ngưỡng phải nộp tại nước đó, mà nguyên nhân xuất phát từ sự khác biệt về:
- Ngưỡng doanh thu;
- Đồng tiền quy đổi; hoặc
- Nguyên tắc xác định doanh thu giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ.
3.2. Chưa có cơ chế trao đổi Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia với Việt Nam
Trường hợp thứ hai là quốc gia, vùng lãnh thổ nơi Công ty mẹ tối cao cư trú có điều ước quốc tế về thuế hoặc thỏa thuận quốc tế với Việt Nam nhưng không có Thỏa thuận của Nhà chức trách có thẩm quyền có hiệu lực với Việt Nam tại thời điểm đến hạn nộp báo cáo.
Trong trường hợp này, dù Công ty mẹ tối cao có thể đã lập báo cáo tại nước nơi cư trú nhưng chưa có cơ chế trao đổi báo cáo theo quy định với Việt Nam, người nộp thuế tại Việt Nam thuộc trường hợp phải nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia cho cơ quan thuế.
3.3. Có thỏa thuận nhưng xảy ra tình trạng không thực hiện trao đổi thông tin một cách hệ thống
Trường hợp thứ ba là quốc gia, vùng lãnh thổ nơi Công ty mẹ tối cao cư trú đã có Thỏa thuận của Nhà chức trách có thẩm quyền với Việt Nam, nhưng xảy ra tình trạng không thực hiện trao đổi thông tin một cách hệ thống và tình trạng này đã được thông báo cho người nộp thuế tại Việt Nam.
Khoản 13 Điều 4 Nghị định 255/2026/NĐ-CP giải thích tình trạng không thực hiện trao đổi thông tin một cách hệ thống là trường hợp quốc gia hoặc vùng lãnh thổ đã có thỏa thuận trao đổi tự động Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia có hiệu lực nhưng:
- Tạm ngừng trao đổi vì lý do không phù hợp với điều kiện của thỏa thuận; hoặc
- Liên tục không trao đổi các báo cáo mà quốc gia, vùng lãnh thổ đó đang nắm giữ, dẫn đến cơ quan thuế Việt Nam không nhận được báo cáo.
Đồng thời, Nghị định quy định việc yêu cầu doanh nghiệp nộp báo cáo theo các trường hợp trên chỉ được thực hiện khi Việt Nam đáp ứng các điều kiện về bảo mật thông tin, tính nhất quán và sử dụng thông tin đúng mục đích theo Luật Quản lý thuế.
Cơ quan thuế có trách nhiệm công khai việc đáp ứng các điều kiện này.
4. Trường hợp nào doanh nghiệp tại Việt Nam không phải trực tiếp nộp báo cáo?
Điểm a khoản 2 Điều 19 Nghị định 255/2026/NĐ-CP quy định 02 nhóm trường hợp doanh nghiệp tại Việt Nam không phải trực tiếp nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia.
4.1. Báo cáo của Công ty mẹ tối cao được tự động trao đổi cho Việt Nam
Doanh nghiệp tại Việt Nam không phải nộp báo cáo nếu:
- Công ty mẹ tối cao có nghĩa vụ lập và nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia tại quốc gia, vùng lãnh thổ nơi cư trú; và
- Báo cáo đó được trao đổi tự động cho cơ quan thuế Việt Nam theo Thỏa thuận của Nhà chức trách có thẩm quyền.
Trong trường hợp này, doanh nghiệp tại Việt Nam vẫn phải gửi Thông báo về đối tượng nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia cho cơ quan thuế Việt Nam.
4.2. Công ty mẹ tối cao chỉ định một tổ chức khác nộp thay ở nước ngoài
Doanh nghiệp tại Việt Nam cũng không phải trực tiếp nộp báo cáo khi Công ty mẹ tối cao đã chỉ định một tổ chức thay mặt nộp báo cáo tại quốc gia, vùng lãnh thổ nơi tổ chức đó cư trú và đáp ứng đầy đủ các điều kiện tại điểm a.2 khoản 2 Điều 19 Nghị định 255/2026/NĐ-CP.
Các điều kiện gồm:
- Nước nơi tổ chức thay mặt nộp báo cáo cư trú có quy định yêu cầu nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia;
- Có Thỏa thuận của Nhà chức trách có thẩm quyền đang có hiệu lực với Việt Nam khi đến hạn nộp báo cáo;
- Không xảy ra tình trạng không thực hiện trao đổi thông tin một cách hệ thống;
- Tổ chức thay mặt đã thực hiện thông báo với Nhà chức trách có thẩm quyền tại nơi cư trú nếu pháp luật nước đó yêu cầu;
- Người nộp thuế tại Việt Nam gửi Thông báo về đối tượng nộp báo cáo cho cơ quan thuế Việt Nam kèm theo văn bản chỉ định tổ chức thay mặt nộp báo cáo.
Nếu không đáp ứng đầy đủ các điều kiện này, doanh nghiệp tại Việt Nam phải xem xét nghĩa vụ nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia theo các trường hợp tại điểm b khoản 2 Điều 19.
5. Công ty mẹ tối cao chỉ định doanh nghiệp tại Việt Nam nộp báo cáo thì xử lý thế nào?
Nghị định 255/2026/NĐ-CP còn quy định riêng trường hợp Công ty mẹ tối cao chỉ định một doanh nghiệp tại Việt Nam thực hiện nghĩa vụ nộp báo cáo.
Điểm c khoản 2 Điều 19 Nghị định 255/2026/NĐ-CP quy định người nộp thuế tại Việt Nam được Công ty mẹ tối cao chỉ định là tổ chức thay mặt nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia thì có trách nhiệm:
- Lập và nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia theo Phụ lục IV cho cơ quan thuế;
- Nộp Thông báo về đối tượng nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia;
- Gửi kèm văn bản chỉ định của Công ty mẹ tối cao.
Nếu tập đoàn đa quốc gia có nhiều hơn một người nộp thuế tại Việt Nam và Công ty mẹ tối cao có văn bản chỉ định một người nộp thuế tại Việt Nam thực hiện nghĩa vụ nộp báo cáo, người được chỉ định phải nộp thông báo kèm văn bản chỉ định và thực hiện nghĩa vụ nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia cho cơ quan thuế.
6. Thời hạn nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia là bao lâu?
Về thông báo, điểm d khoản 2 Điều 19 Nghị định 255/2026/NĐ-CP quy định người nộp thuế thực hiện theo Mẫu số 01/TB-BCLN ban hành kèm Nghị định.
Kể từ khi Nghị định có hiệu lực, người nộp thuế chỉ phải nộp thông báo 01 lần khi lần đầu phát sinh nghĩa vụ liên quan đến Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia.
Thời hạn nộp thông báo chậm nhất là ngày kết thúc năm tài chính của Công ty mẹ tối cao của năm báo cáo.
Nếu thông tin đã thông báo có thay đổi, kể cả trường hợp chấm dứt nghĩa vụ nộp báo cáo, người nộp thuế phải cập nhật cho cơ quan thuế chậm nhất 90 ngày kể từ ngày phát sinh thay đổi.
Đối với Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia, khoản 3 Điều 19 Nghị định 255/2026/NĐ-CP quy định thời hạn nộp chậm nhất là 12 tháng kể từ ngày kết thúc năm tài chính của Công ty mẹ tối cao của năm báo cáo.
Báo cáo được nộp dưới định dạng XML đã được mã hóa; Thông báo và Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia được nộp qua Hệ thống thông tin quản lý thuế.
Trên đây là thông tin về "Doanh nghiệp có công ty mẹ tối cao ở nước ngoài phải nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia tại Việt Nam trong trường hợp nào?" theo Nghị định 255/2026/NĐ-CP.
RSS