Chính phủ số là một trong những nội dung quan trọng được quy định riêng tại Luật Chuyển đổi số 2025. Vậy Chính phủ số là gì theo quy định mới nhất, hoạt động của Chính phủ số được tổ chức như thế nào và việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến trong mô hình này ra sao?
- 1. Chính phủ số là gì theo quy định mới nhất?
- 2. Hoạt động của Chính phủ số được thực hiện như thế nào?
- 3. Dịch vụ công trực tuyến trong Chính phủ số được cung cấp ra sao?
- 3.1. Dịch vụ công trực tuyến được cung cấp tập trung, thống nhất
- 3.2. Không được yêu cầu nộp thêm giấy tờ khi hệ thống đã khai thác được dữ liệu
- 3.3. Hệ thống phải kết nối, liên thông để giải quyết thủ tục hành chính
- 4. Dịch vụ công trực tuyến trong Chính phủ số phải đảm bảo chất lượng thế nào?
- 5. Chính phủ số phải tuân thủ những nguyên tắc nào?
- 6. Quy định mới về Chính phủ số có hiệu lực từ khi nào?
1. Chính phủ số là gì theo quy định mới nhất?
Chính phủ số là mô hình để tổ chức và vận hành các hoạt động của cơ quan nhà nước trên môi trường số, dựa trên dữ liệu số, hạ tầng số, hạ tầng số công cộng, hệ thống số và nền tảng số nhằm ra quyết định kịp thời, điều hành hiệu quả, bảo đảm minh bạch và kết nối, liên thông với tổ chức, doanh nghiệp và người dân. Khái niệm này được quy định tại khoản 11 Điều 3 Luật Chuyển đổi số 2025.
Theo Khoản 1 Điều 3 Luật Chuyển đổi số 2025, chuyển đổi số là quá trình chuyển đổi phương thức hoạt động, quản trị và cung cấp dịch vụ dựa trên công nghệ số, dữ liệu số, hệ thống số, nền tảng số, quy trình số nhằm tạo ra giá trị mới, hiệu quả và minh bạch. Chính phủ số là một trong những nội dung thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Chuyển đổi số 2025.

2. Hoạt động của Chính phủ số được thực hiện như thế nào?
Theo Điều 31 Luật Chuyển đổi số 2025, hoạt động của Chính phủ số được thực hiện thông qua việc cơ quan nhà nước tổ chức cung cấp dịch vụ công, quản trị nội bộ, chỉ đạo, điều hành, giám sát, kiểm tra trên môi trường số.
Cụ thể, cơ quan nhà nước có trách nhiệm:
- Thực hiện cung cấp dịch vụ công, công tác quản trị nội bộ, chỉ đạo, điều hành, giám sát, kiểm tra toàn trình trên môi trường số, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Có phương án xử lý trong trường hợp khẩn cấp hoặc khi xảy ra sự cố làm gián đoạn hoạt động trên môi trường số; đồng thời có phương án ứng phó, khắc phục sự cố và duy trì hoạt động bình thường.
Bên cạnh đó, hoạt động chỉ đạo, điều hành và ra quyết định trong Chính phủ số phải được thực hiện dựa trên dữ liệu số đầy đủ, chính xác, kịp thời.
Các quy trình nghiệp vụ của cơ quan nhà nước cũng phải được rà soát, chuẩn hóa, tái cấu trúc và đơn giản hóa trước khi số hóa, bảo đảm tinh gọn, không trùng lặp, tăng cường tự động hóa và không yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp lại thông tin, dữ liệu số hợp lệ đã được cung cấp.
3. Dịch vụ công trực tuyến trong Chính phủ số được cung cấp ra sao?
Dịch vụ công trực tuyến là một nội dung trực tiếp gắn với hoạt động của Chính phủ số. Theo khoản 15 Điều 3 Luật Chuyển đổi số, dịch vụ công trực tuyến là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác do cơ quan nhà nước cung cấp trên môi trường số, gồm dịch vụ công trực tuyến toàn trình và dịch vụ công trực tuyến một phần.
3.1. Dịch vụ công trực tuyến được cung cấp tập trung, thống nhất
Theo khoản 1 Điều 32 Luật Chuyển đổi số, cơ quan nhà nước cung cấp dịch vụ công trực tuyến thống nhất, tập trung từ trung ương đến địa phương trên Cổng dịch vụ công quốc gia và Ứng dụng định danh quốc gia.
Trong đó:
- Thủ tục hành chính được cung cấp mặc định theo hình thức dịch vụ công trực tuyến toàn trình;
- Chỉ cung cấp dịch vụ công trực tuyến một phần nếu pháp luật có quy định khác hoặc xảy ra sự cố kỹ thuật chưa thể khắc phục ngay.
Theo khoản 15 Điều 3 Luật này, dịch vụ công trực tuyến toàn trình là dịch vụ được thực hiện hoàn toàn trên môi trường số, gồm các công đoạn nộp, tiếp nhận hồ sơ, xử lý, thanh toán nếu có và trả kết quả. Dịch vụ công trực tuyến một phần là dịch vụ chỉ thực hiện một hoặc một số công đoạn trên môi trường số.
3.2. Không được yêu cầu nộp thêm giấy tờ khi hệ thống đã khai thác được dữ liệu
Cơ quan nhà nước có trách nhiệm hướng dẫn, hỗ trợ người dân khi thực hiện dịch vụ công trực tuyến, đồng thời phải công khai quy trình, thời hạn xử lý và kết quả xử lý theo quy định.
Đáng chú ý, khoản 3 Điều 32 còn đặt ra trách nhiệm xử lý theo quy định đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động yêu cầu người dân nộp thêm giấy tờ trong trường hợp hệ thống thông tin phục vụ giải quyết thủ tục hành chính đã kết nối, khai thác và sử dụng được dữ liệu từ cơ sở dữ liệu quốc gia hoặc cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Quy định này thống nhất với yêu cầu tại khoản 3 Điều 31 rằng tổ chức, cá nhân không phải cung cấp lại thông tin, dữ liệu số hợp lệ đã được cung cấp.
3.3. Hệ thống phải kết nối, liên thông để giải quyết thủ tục hành chính
Theo Điều 33 Luật Chuyển đổi số, hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính và các hệ thống tham gia xử lý thủ tục, cung cấp dịch vụ công trực tuyến phải được thiết kế, xây dựng, kết nối, liên thông và vận hành phù hợp với các khung kiến trúc, quản trị dữ liệu, từ điển dữ liệu dùng chung và các tiêu chuẩn, quy chuẩn, yêu cầu kỹ thuật có liên quan.
Cơ quan nhà nước phải kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu từ:
- Cơ sở dữ liệu quốc gia;
- Cơ sở dữ liệu chuyên ngành;
- Hệ thống thông tin của cơ quan khác.
Mục đích là phục vụ giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công trực tuyến và bảo đảm liên thông xuyên suốt, không phân mảnh giữa trung ương và địa phương.
4. Dịch vụ công trực tuyến trong Chính phủ số phải đảm bảo chất lượng thế nào?
Theo Điều 34 Luật Chuyển đổi số, hệ thống phục vụ giải quyết thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công trực tuyến phải được thiết kế để có khả năng đo lường, giám sát chất lượng dịch vụ theo thời gian thực.
Các nội dung được đo lường, giám sát gồm:
- Tốc độ;
- Tính ổn định;
- Khả năng xử lý;
- Mức độ tự động hóa;
- Trải nghiệm của người sử dụng;
- Việc bảo đảm an ninh mạng.
Cơ quan nhà nước cũng phải công khai trên Cổng dịch vụ công quốc gia và Cổng thông tin điện tử của cơ quan các nội dung như cam kết chất lượng dịch vụ, chỉ số giám sát chất lượng theo thời gian thực, cơ chế phản hồi và xử lý sự cố, kết quả cải thiện chất lượng, hiệu quả sử dụng dịch vụ và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp.
Khoản 3 Điều 34 còn yêu cầu chất lượng dịch vụ công trực tuyến phải được cải thiện liên tục trên cơ sở kết quả đánh giá độc lập, khảo sát người sử dụng và dữ liệu thực tế sử dụng.
Không chỉ bảo đảm chất lượng, Điều 35 của Luật còn yêu cầu cơ quan cung cấp dịch vụ công trực tuyến phải bảo đảm người sử dụng có thể dễ dàng tiếp cận và truy cập, đặc biệt là người khuyết tật, người cao tuổi, trẻ em, người dân tại khu vực biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn và các nhóm dễ bị tổn thương khác.
5. Chính phủ số phải tuân thủ những nguyên tắc nào?
Khoản 4 Điều 31 Luật Chuyển đổi số quy định hoạt động của Chính phủ số phải tuân thủ các nguyên tắc chuyển đổi số tại Điều 6 của Luật này.
Theo Điều 6, các nguyên tắc đáng chú ý gồm:
- Thúc đẩy đổi mới sáng tạo, lấy người sử dụng làm trung tâm, nâng cao chất lượng dịch vụ và tạo giá trị mới;
- Tăng cường kết nối, chia sẻ và sử dụng lại dữ liệu, lấy khai báo một lần làm mặc định để giảm thủ tục, hạn chế trùng lặp và nâng cao năng lực ra quyết định;
- Bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư;
- Triển khai linh hoạt, thích ứng với sự phát triển nhanh của công nghệ, khuyến khích thử nghiệm và ứng dụng công nghệ mới;
- Bảo đảm tính bao trùm để mọi tổ chức, cá nhân có cơ hội tiếp cận, sử dụng dịch vụ số thuận lợi, an toàn và hiệu quả;
- Bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình đối với quyết định dựa trên công nghệ số;
- Gắn chuyển đổi số với hoạt động đo lường, đánh giá, giám sát và cải thiện liên tục.
Đây cũng là các nguyên tắc mà cơ quan nhà nước có trách nhiệm tuân thủ khi tổ chức và vận hành các hoạt động trong mô hình Chính phủ số.
6. Quy định mới về Chính phủ số có hiệu lực từ khi nào?
Các quy định nêu trên được ghi nhận tại Luật Chuyển đổi số 2025. Theo khoản 1 Điều 47 của Luật này, Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026.
Cũng theo Điều 47, Luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung qua các luật liên quan hết hiệu lực kể từ ngày Luật Chuyển đổi số có hiệu lực, trừ các trường hợp chuyển tiếp được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 48.
Trên đây là thông tin về “Chính phủ số là gì theo quy định mới nhất?”.
RSS