Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định cụ thể trường hợp được xét giảm thuế, cách xác định số thuế được giảm và mức độ thiệt hại làm căn cứ giảm thuế. Vậy bị thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn hoặc bệnh hiểm nghèo được giảm thuế thu nhập cá nhân thế nào?
- 1. Bị thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn hoặc bệnh hiểm nghèo được giảm thuế thu nhập cá nhân thế nào?
- 2. Việc giảm thuế do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo được tính theo thời gian nào?
- 3. Số thuế phải nộp làm căn cứ xét giảm thuế gồm những khoản nào?
- 4. Mức độ thiệt hại để giảm thuế được xác định thế nào?
- 4.1. Khoản chi được tính vào mức độ thiệt hại
- 4.2. Khoản phải trừ khỏi mức độ thiệt hại
- 5. Số thuế thu nhập cá nhân được giảm được tính thế nào?
- 5.1. Số thuế phải nộp lớn hơn mức độ thiệt hại
- 5.2. Số thuế phải nộp nhỏ hơn mức độ thiệt hại
- 6. Hồ sơ, thủ tục xét giảm thuế thực hiện thế nào?
1. Bị thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn hoặc bệnh hiểm nghèo được giảm thuế thu nhập cá nhân thế nào?

Người nộp thuế gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn hoặc bệnh hiểm nghèo làm ảnh hưởng đến khả năng nộp thuế được xét giảm thuế tương ứng với mức độ thiệt hại, nhưng số thuế được giảm không vượt quá số thuế thu nhập cá nhân phải nộp. Việc xét giảm thuế được thực hiện theo năm.
Khoản 1 Điều 40 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định:
“Người nộp thuế gặp khó khăn bị do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo ảnh hưởng đến khả năng nộp thuế thì được xét giảm thuế tương ứng với mức độ thiệt hại nhưng không vượt quá số thuế thu nhập cá nhân phải nộp.”
Theo quy định này, việc giảm thuế áp dụng khi có các yếu tố:
- Người nộp thuế gặp thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn hoặc bệnh hiểm nghèo;
- Sự việc làm người nộp thuế gặp khó khăn và ảnh hưởng đến khả năng nộp thuế;
- Mức giảm thuế được xác định tương ứng với mức độ thiệt hại;
- Số thuế được giảm tối đa không vượt quá số thuế thu nhập cá nhân phải nộp.
Riêng việc xác định bệnh hiểm nghèo được thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế. Nghị định 253/2026/NĐ-CP không quy định danh mục bệnh cụ thể tại Điều 40.
2. Việc giảm thuế do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo được tính theo thời gian nào?
Khoản 2 Điều 40 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định việc xét giảm thuế được thực hiện theo năm.
Cụ thể:
“Việc xét giảm thuế được thực hiện theo năm. Người nộp thuế gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo trong năm nào thì được xét giảm số thuế phải nộp của năm đó.”
Như vậy, thời điểm xảy ra sự kiện là căn cứ xác định năm được xét giảm thuế. Nếu người nộp thuế gặp thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn hoặc bệnh hiểm nghèo trong năm nào thì số thuế được xem xét giảm là số thuế phải nộp của chính năm đó.
Nghị định không quy định chuyển phần thiệt hại chưa được tính hết sang năm tính thuế tiếp theo tại Điều 40.
3. Số thuế phải nộp làm căn cứ xét giảm thuế gồm những khoản nào?
Khoản 3 Điều 40 Nghị định 253/2026/NĐ-CP xác định số thuế phải nộp làm căn cứ xét giảm là tổng số thuế thu nhập cá nhân mà người nộp thuế phải nộp trong năm tính thuế.
Số thuế này bao gồm:
- Thuế thu nhập cá nhân phải nộp theo kỳ tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh và thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân;
- Thuế thu nhập cá nhân đã nộp hoặc đã khấu trừ đối với thu nhập từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản, trúng thưởng, bản quyền, nhượng quyền thương mại, thừa kế, quà tặng và thu nhập khác.
Quy định này xác định phạm vi số thuế được đưa vào làm căn cứ xét giảm trong năm, không chỉ giới hạn ở thuế đối với tiền lương, tiền công.
Theo đó, khi xác định số thuế có thể được giảm, tổng nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân thuộc các nguồn thu nhập nêu trên trong năm tính thuế được sử dụng làm căn cứ so sánh với mức độ thiệt hại.
4. Mức độ thiệt hại để giảm thuế được xác định thế nào?
Khoản 4 Điều 40 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định:
“Căn cứ để xác định mức độ thiệt hại được giảm thuế là tổng chi phí thực tế để khắc phục thiệt hại, để chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh trừ (-) đi các khoản bồi thường, bảo hiểm nhận được từ tổ chức bảo hiểm (nếu có) hoặc từ tổ chức, cá nhân gây ra thiệt hại (nếu có).”
Theo đó, mức độ thiệt hại dùng để xét giảm thuế được xác định theo nguyên tắc:
Mức độ thiệt hại = Tổng chi phí thực tế để khắc phục thiệt hại, khám bệnh, chữa bệnh – Các khoản bồi thường, bảo hiểm đã nhận.
4.1. Khoản chi được tính vào mức độ thiệt hại
Nghị định xác định hai nhóm chi phí:
- Chi phí thực tế để khắc phục thiệt hại;
- Chi phí khám bệnh, chữa bệnh.
Đây là các khoản chi thực tế liên quan đến hậu quả của thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn hoặc bệnh hiểm nghèo.
4.2. Khoản phải trừ khỏi mức độ thiệt hại
Các khoản sau phải được trừ khỏi tổng chi phí thực tế:
- Khoản bồi thường, bảo hiểm nhận được từ tổ chức bảo hiểm, nếu có;
- Khoản bồi thường nhận được từ tổ chức, cá nhân gây ra thiệt hại, nếu có.
Do đó, mức độ thiệt hại làm căn cứ giảm thuế không phải toàn bộ chi phí phát sinh nếu người nộp thuế đã được bảo hiểm hoặc tổ chức, cá nhân khác bồi thường một phần hoặc toàn bộ thiệt hại.
5. Số thuế thu nhập cá nhân được giảm được tính thế nào?
Khoản 5 Điều 40 Nghị định 253/2026/NĐ-CP chia thành hai trường hợp dựa trên việc so sánh số thuế phải nộp trong năm với mức độ thiệt hại.
5.1. Số thuế phải nộp lớn hơn mức độ thiệt hại
Trường hợp số thuế phải nộp trong năm lớn hơn mức độ thiệt hại thì:
Số thuế được giảm bằng mức độ thiệt hại.
Nội dung này được quy định tại điểm a khoản 5 Điều 40 Nghị định 253/2026/NĐ-CP.
Ví dụ về cách áp dụng công thức theo quy định: nếu số thuế phải nộp trong năm cao hơn mức độ thiệt hại đã xác định theo khoản 4 Điều 40 thì mức giảm chỉ bằng đúng mức thiệt hại, không giảm toàn bộ số thuế phải nộp.
5.2. Số thuế phải nộp nhỏ hơn mức độ thiệt hại
Nếu số thuế phải nộp trong năm nhỏ hơn mức độ thiệt hại thì:
Số thuế được giảm bằng số thuế phải nộp.
Điểm b khoản 5 Điều 40 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định rõ nguyên tắc này.
Trong trường hợp này, dù mức độ thiệt hại lớn hơn nghĩa vụ thuế, số thuế được giảm cũng không vượt quá số thuế thu nhập cá nhân phải nộp trong năm.
Có thể khái quát cách xác định như sau:
- Thuế phải nộp > mức độ thiệt hại: giảm bằng mức độ thiệt hại;
- Thuế phải nộp < mức độ thiệt hại: giảm bằng số thuế phải nộp.
Quy định này thống nhất với nguyên tắc tại khoản 1 Điều 40 là số thuế được giảm không vượt quá số thuế thu nhập cá nhân phải nộp.
6. Hồ sơ, thủ tục xét giảm thuế thực hiện thế nào?
Khoản 6 Điều 40 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định:
“Hồ sơ, thủ tục xét giảm thuế tại Điều này thực hiện theo pháp luật về quản lý thuế.”
Như vậy, Điều 40 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định về điều kiện, nguyên tắc và cách xác định số thuế được giảm nhưng không quy định chi tiết thành phần hồ sơ hoặc trình tự thực hiện.
Hồ sơ và thủ tục cụ thể phải thực hiện theo các quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Trong phạm vi Nghị định 253/2026/NĐ-CP, các căn cứ trực tiếp để xét giảm thuế gồm:
- Sự kiện thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn hoặc bệnh hiểm nghèo làm ảnh hưởng khả năng nộp thuế;
- Tổng số thuế thu nhập cá nhân phải nộp trong năm;
- Tổng chi phí thực tế để khắc phục thiệt hại hoặc khám, chữa bệnh;
- Khoản bồi thường, bảo hiểm đã nhận từ tổ chức bảo hiểm hoặc tổ chức, cá nhân gây thiệt hại, nếu có.
Trên đây là thông tin về “Bị thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn hoặc bệnh hiểm nghèo được giảm thuế thu nhập cá nhân thế nào?”. Theo Nghị định 253/2026/NĐ-CP, tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ tại nơi làm việc phù hợp với quy định về điều kiện và thời gian theo pháp luật về lao động được miễn thuế thu nhập cá nhân; phần vượt mức quy định của pháp luật phải tính vào thu nhập chịu thuế trên LuatVietnam.vn, đồng thời tra cứu tình trạng hiệu lực và lược đồ văn bản để đối chiếu các quy định liên quan.
RSS