Theo điểm a khoản 1 Điều 70 Nghị định 330/2026/NĐ-CP, phạt tiền từ 50-70 triệu đồng đối với hành vi cung cấp nền tảng, ứng dụng di động có thu thập dữ liệu vị trí cá nhân nhưng không thông báo cho người dùng về việc sử dụng dữ liệu này.

Như vậy, khi ứng dụng sử dụng chức năng định vị, bên cung cấp phải thông báo rõ cho người dùng biết dữ liệu vị trí của họ được thu thập và sử dụng. Việc âm thầm thu thập hoặc không cung cấp đầy đủ thông tin có thể bị xử phạt theo quy định trên.
Mức phạt từ 50-70 triệu đồng còn được áp dụng đối với các hành vi:
• Không áp dụng biện pháp kỹ thuật để ngăn chặn bên thứ ba không liên quan thu thập dữ liệu vị trí cá nhân;
• Không cung cấp cho người dùng tùy chọn theo dõi vị trí;
• Không hạn chế quyền truy cập hoặc không có hệ thống theo dõi, phòng ngừa hành vi xâm phạm dữ liệu vị trí và dữ liệu sinh trắc học;
• Thu thập, xử lý dữ liệu sinh trắc học nhưng không áp dụng biện pháp bảo mật vật lý đối với hệ thống, thiết bị lưu trữ và truyền tải dữ liệu;
• Không thông báo cho cơ quan chuyên trách bảo vệ dữ liệu cá nhân và người bị ảnh hưởng trong vòng 72 giờ kể từ khi phát hiện sự cố;
• Không ghi nhận, cập nhật và lưu giữ hồ sơ vi phạm trong ít nhất 5 năm kể từ ngày khắc phục xong sự cố.
Đối với hành vi lắp đặt, sử dụng công nghệ theo dõi định vị qua thẻ RFID hoặc công nghệ khác mà không có sự đồng ý của chủ thể dữ liệu, mức phạt được nâng lên từ 70-150 triệu đồng. Mức phạt này cũng áp dụng khi khai thác, sử dụng dữ liệu sinh trắc học vượt quá mục đích ban đầu mà chưa được chủ thể dữ liệu đồng ý.
Ngoài phạt tiền, bên vi phạm còn có thể bị tịch thu thiết bị, đình chỉ hoạt động của hệ thống hoặc nền tảng theo dõi vị trí từ 03-06 tháng; đồng thời buộc xóa dữ liệu vị trí, dữ liệu sinh trắc học đã thu thập trái phép và cung cấp cho người dùng tùy chọn bật hoặc tắt việc thu thập dữ liệu vị trí.
RSS