
Theo khoản 3 Điều 21 Nghị quyết 250/2025/QH15, trường hợp Việt Nam chưa đặt trụ sở cơ quan đại diện ở nước ngoài và có thỏa thuận với nước tiếp nhận thì thực hiện thí điểm bổ nhiệm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền lưu động. Quy trình bổ nhiệm được thực hiện tương tự quy trình bổ nhiệm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền theo pháp luật về cơ quan đại diện.
Khoản 4 Điều 3 Nghị định 258/2026/NĐ-CP xác định Đại sứ đặc mệnh toàn quyền lưu động là chức danh do Chủ tịch nước bổ nhiệm để thực hiện chức năng đại diện chính thức của Nhà nước trong quan hệ với nước tiếp nhận và không có trụ sở thường trú tại nước tiếp nhận.
Theo khoản 1 Điều 8 Nghị định 258/2026/NĐ-CP, cơ chế này được thí điểm tại quốc gia đã thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam nhưng chưa có nhu cầu thành lập Đại sứ quán thường trú. Căn cứ thỏa thuận với nước tiếp nhận và yêu cầu nhiệm vụ, Bộ Ngoại giao báo cáo cấp có thẩm quyền, đề xuất áp dụng cơ chế này thay cho cơ chế Đại sứ đặc mệnh toàn quyền kiêm nhiệm tại địa bàn đó.
Khoản 2 và khoản 3 Điều 8 quy định một Đại sứ đặc mệnh toàn quyền lưu động có thể được bổ nhiệm tại một hoặc nhiều quốc gia. Nhiệm kỳ tại mỗi quốc gia là 36 tháng, có thể được kéo dài hoặc rút ngắn theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục bổ nhiệm và cơ chế quản lý được thực hiện tương tự quy định áp dụng đối với Đại sứ đặc mệnh toàn quyền. Giai đoạn thí điểm được thực hiện từ ngày 30/06/2026 đến hết ngày 31/12/2030; người giữ chức danh này phải là công chức, viên chức thuộc Bộ Ngoại giao.
Theo khoản 4 và khoản 5 Điều 8, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền lưu động thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của cơ chế đại diện chính thức của Nhà nước Việt Nam; được hưởng công tác phí, phương tiện đi lại và phụ cấp trách nhiệm hằng tháng bằng 50% mức sinh hoạt phí cơ sở. Khoản 6 Điều 8 quy định Bộ Ngoại giao thành lập tổ công tác kiêm nhiệm để giúp việc. Đồng thời, theo điểm b khoản 2 Điều 13, Bộ Ngoại giao phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện thí điểm trước ngày 31/12/2030.
RSS