Nguồn vốn, tài sản để đầu tư vốn Nhà nước vào doanh nghiệp từ 01/01/2026

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 366/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 quy định về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01/01/2026.
Nguồn vốn, tài sản để đầu tư vốn Nhà nước vào doanh nghiệp từ 01/01/2026
Nguồn vốn, tài sản để đầu tư vốn Nhà nước vào doanh nghiệp từ 01/01/2026 (Ảnh minh họa)

Theo Điều 5 Nghị định 366/2025/NĐ-CP, nguồn vốn, tài sản để Nhà nước đầu tư vốn vào doanh nghiệp được xác định như sau:

1 - Nguồn vốn, tài sản theo quy định của Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp

Việc đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp được thực hiện theo Điều 11 Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp 2025, bao gồm các nguồn vốn, tài sản theo quy định của Luật.

2 - Các nguồn vốn, tài sản hợp pháp khác

Ngoài nguồn vốn theo Luật, Nhà nước được sử dụng các nguồn hợp pháp sau để đầu tư vốn vào doanh nghiệp:

- Chênh lệch tăng thêm do đánh giá lại tài sản nhằm mục đích tăng vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ;

- Vốn ODA không hoàn lại được cấp có thẩm quyền quyết định sử dụng để đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp;

- Vốn đầu tư công theo pháp luật về đầu tư công, được cấp có thẩm quyền quyết định sử dụng để đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp;

- Các khoản hỗ trợ từ Nhà nước nhằm tăng vốn nhà nước tại doanh nghiệp hoặc để đầu tư, thực hiện dự án, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật hoặc theo quyết định của cấp có thẩm quyền;

- Tài sản chuyển giao không bồi hoàn cho bên Việt Nam là doanh nghiệp, được cấp có thẩm quyền quyết định sử dụng để đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp;

- Các nguồn vốn, tài sản khác do cấp có thẩm quyền quyết định sử dụng để đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp.

3 - Xử lý tài sản chuyển giao không bồi hoàn cho bên Việt Nam là doanh nghiệp

Tài sản chuyển giao không bồi hoàn theo quy định tại Điều 125 Nghị định số 31/2021/NĐ-CP được xử lý theo pháp luật về đầu tư và các quy định cụ thể sau:

- Trường hợp sử dụng để đầu tư bổ sung vốn nhà nước:
Cơ quan đại diện chủ sở hữu của doanh nghiệp tiếp nhận tài sản có trách nhiệm quyết định việc sử dụng tài sản để đầu tư bổ sung vốn nhà nước vào doanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý; hoặc phối hợp với cơ quan đại diện chủ sở hữu khác báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt chủ trương sử dụng tài sản để đầu tư bổ sung vốn nhà nước.

- Trường hợp không sử dụng để đầu tư vốn nhà nước:
Cơ quan đại diện chủ sở hữu thực hiện thủ tục xác lập quyền sở hữu toàn dân và quản lý tài sản theo pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện theo Nghị định số 77/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025.

- Trường hợp sử dụng tài sản để đầu tư vốn nhà nước:
Cơ quan đại diện chủ sở hữu chỉ đạo doanh nghiệp thuê tổ chức thẩm định giá để xác định giá trị tài sản chuyển giao không bồi hoàn theo quy định pháp luật về giá và thẩm định giá. Kết quả thẩm định là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư bổ sung vốn nhà nước vào doanh nghiệp.

- Trách nhiệm của doanh nghiệp khi chuyển nhượng vốn hoặc dự án đầu tư:
Doanh nghiệp được tiếp nhận tài sản chuyển giao không bồi hoàn có trách nhiệm:

  • Công khai thông tin cho nhà đầu tư trước khi chuyển nhượng; ghi nhận rõ trong hợp đồng chuyển nhượng và sửa đổi, bổ sung hợp đồng liên doanh nội dung tài sản sẽ được chuyển giao không bồi hoàn cho cơ quan đại diện chủ sở hữu khi kết thúc thời hạn liên doanh;
  • Theo dõi và báo cáo cơ quan đại diện chủ sở hữu để phục vụ công tác giám sát.
1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Đã có toàn văn Luật Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài sửa đổi 2026, số 8/2026/QH16

Đã có toàn văn Luật Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài sửa đổi 2026, số 8/2026/QH16

Đã có toàn văn Luật Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài sửa đổi 2026, số 8/2026/QH16

Quốc hội đã thông qua Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài sửa đổi 2026, tại Kỳ họp thứ Nhất, khóa XVI ngày 23/4/2026. Luật số 8/2026/QH16 sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.

Đã có Nghị định 147/2026/NĐ-CP về cơ chế đặc thù tháo gỡ dự án tồn đọng, kéo dài

Đã có Nghị định 147/2026/NĐ-CP về cơ chế đặc thù tháo gỡ dự án tồn đọng, kéo dài

Đã có Nghị định 147/2026/NĐ-CP về cơ chế đặc thù tháo gỡ dự án tồn đọng, kéo dài

Ngày 07/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 147/2026/NĐ-CP hướng dẫn thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài theo Nghị quyết 29/2026/QH16 của Quốc hội. 

Từ 29/4/2026, bãi bỏ cấp tài khoản định danh mức 2, Căn cước điện tử tại cấp Bộ, cấp tỉnh

Từ 29/4/2026, bãi bỏ cấp tài khoản định danh mức 2, Căn cước điện tử tại cấp Bộ, cấp tỉnh

Từ 29/4/2026, bãi bỏ cấp tài khoản định danh mức 2, Căn cước điện tử tại cấp Bộ, cấp tỉnh

Nghị quyết 22/2026/NQ-CP của Chính phủ ban hành và có hiệu lực từ ngày 29/4/2026 quy định việc cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong phạm vi quản lý của Bộ Công an.

Bộ Y tế ra Công văn khẩn tăng cường giám sát, phòng chống bệnh do vi rút Hanta

Bộ Y tế ra Công văn khẩn tăng cường giám sát, phòng chống bệnh do vi rút Hanta

Bộ Y tế ra Công văn khẩn tăng cường giám sát, phòng chống bệnh do vi rút Hanta

Ngày 05/5/2026, Cục Phòng bệnh ban hành Công văn 666/PB-BTN về việc tăng cường giám sát, phòng chống bệnh do vi rút Hanta sau khi Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ghi nhận chùm ca viêm đường hô hấp cấp tính nặng liên quan đến vi rút này trên một tàu du lịch quốc tế.

Từ 05/5/2026, Hà Nội bãi bỏ toàn bộ quy định dạy thêm, học thêm tại Quyết định 22/2013/QĐ-UBND

Từ 05/5/2026, Hà Nội bãi bỏ toàn bộ quy định dạy thêm, học thêm tại Quyết định 22/2013/QĐ-UBND

Từ 05/5/2026, Hà Nội bãi bỏ toàn bộ quy định dạy thêm, học thêm tại Quyết định 22/2013/QĐ-UBND

UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định 2339/QĐ-UBND về việc bãi bỏ toàn bộ Quyết định số 22/2013/QĐ-UBND ngày 25/6/2013 ban hành Quy định về dạy thêm, học thêm trên địa bàn thành phố Hà Nội. Quyết định mới có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành, 05/5/2026.