Theo khoản 1 Điều 9 Nghị định 164/2026/NĐ-CP, tài sản, thu nhập phải kê khai bao gồm tài sản của người có nghĩa vụ kê khai, vợ (chồng) và con chưa thành niên. Trong đó, Nghị định quy định phải kê khai:
“Tài sản số, tài sản khác mà mỗi loại có giá trị từ 150 triệu đồng trở lên.”
Như vậy, từ ngày 01/7/2026, nếu người có nghĩa vụ kê khai sở hữu tài sản số có giá trị từ 150 triệu đồng trở lên thì thuộc diện phải kê khai tài sản, thu nhập theo quy định.

Ngoài tài sản số, Nghị định cũng quy định nhiều nhóm tài sản khác phải kê khai như:
- Quyền sử dụng đất;
- Nhà ở, công trình xây dựng;
- Vàng, kim cương, bạch kim và các kim khí quý, đá quý khác từ 150 triệu đồng trở lên;
- Tiền mặt, tiền gửi, tiền cho vay, tiền trả trước có tổng giá trị quy đổi từ 150 triệu đồng trở lên;
- Cổ phiếu, trái phiếu, vốn góp và giấy tờ có giá từ 150 triệu đồng trở lên;
- Các khoản nợ từ 150 triệu đồng trở lên;
- Tài sản ở nước ngoài, tài khoản ở nước ngoài;
- Tổng thu nhập giữa hai lần kê khai.
Khoản 2 Điều 9 Nghị định 164/2026/NĐ-CP quy định việc kê khai lần đầu, kê khai hằng năm, kê khai bổ sung hoặc kê khai phục vụ công tác cán bộ sẽ thực hiện theo mẫu bản kê khai ban hành kèm theo Nghị định. Đồng thời, việc kê khai có thể được thực hiện trên môi trường điện tử khi đáp ứng điều kiện về cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ.
Đáng chú ý, tại mẫu kê khai ban hành kèm theo Nghị định, phần tài sản khác đã quy định cụ thể việc kê khai tài sản số, tài sản đấu giá, quyền sở hữu trí tuệ, đồ mỹ nghệ, cổ vật và nhiều loại tài sản khác nếu đạt ngưỡng giá trị theo quy định.
Nghị định 164/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 và thay thế Nghị định 130/2020/NĐ-CP về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.
RSS