Dự tuyển tiến sĩ phải có bằng ĐH loại giỏi

Dự tuyển tiến sĩ phải có bằng ĐH loại giỏi

(LuatVietnam) Đây là một trong những nội dung đáng chú ý tại Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 04/04/2017 tại Thông tư số 08/2017/TT-BGDĐT.

Cụ thể, từ ngày 18/05/2017, người dự tuyển đào tạo trình độ tiến sĩ phải có bằng thạc sĩ hoặc bằng tốt nghiệp đại học loại giỏi trở lên, thay vì chỉ cần bằng tốt nghiệp đại học loại khá trở lên như quy định hiện hành. Ngoài ra, người dự tuyển còn phải đáp ứng các điều kiện như: Là tác giả 01 bài báo hoặc báo cáo liên quan đến lĩnh vực dự định nghiên cứu đăng trên tạp chí khoa học hoặc kỷ yếu hội nghị, hội thảo khoa học chuyên ngành có phản biện trong thời hạn 03 năm tính đến ngày đăng ký dự tuyển; Có bằng tốt nghiệp đại học các ngành ngôn ngữ nước ngoài do các cơ sở đào tạo của Việt Nam cấp hoặc chứng chỉ tiếng Anh TOEFL iBT từ 45 trở lên hoặc Chứng chỉ IELTS từ 5.0 trở lên, được cấp trong thời hạn 02 năm tính đến ngày đăng ký dự tuyển…

Một nội dung đáng chú ý khác là quy định về chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ, theo đó, từ ngày 18/05/2017, khối lượng học tập trình độ tiến sĩ được xách định theo tín chỉ, tối thiểu 90 tín chỉ với nghiên cứu sinh có bằng tốt nghiệp thạc sĩ, 120 tín chỉ với nghiên cứu sinh có bằng tốt nghiệp đại học, thay vì quy định 03 - 04 năm tập trung liên tục như quy định hiện hành.

Bên cạnh đó, Thông tư cũng cho phép các trường được tuyển sinh trình độ tiến sĩ 01 lần hoặc nhiều lần trong năm; thông báo tuyển sinh phải được công khai trên trang thông tin điện tử của trường và phương tiện thông tin đại chúng khác trước khi tổ chức thi tuyển, xét tuyển ít nhất 03 tháng.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 18/05/2017.

·         LuatVietnam

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Vẫn thực hiện theo Luật Quản lý thuế 2019 với các khoản thuế được miễn, giảm, không thu phát sinh trước 01/7/2026

Vẫn thực hiện theo Luật Quản lý thuế 2019 với các khoản thuế được miễn, giảm, không thu phát sinh trước 01/7/2026

Vẫn thực hiện theo Luật Quản lý thuế 2019 với các khoản thuế được miễn, giảm, không thu phát sinh trước 01/7/2026

Luật Quản lý thuế 2025 số 108/2025/QH15 chính thức có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2026, tuy nhiên các khoản thuế được miễn, giảm, không thu phát sinh trước đó vẫn thực hiện theo luật cũ.

Từ 01/7/2026, hồ sơ miễn, giảm thuế được xử lý theo mức độ rủi ro

Từ 01/7/2026, hồ sơ miễn, giảm thuế được xử lý theo mức độ rủi ro

Từ 01/7/2026, hồ sơ miễn, giảm thuế được xử lý theo mức độ rủi ro

Thông tư 94/2026/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định về quản lý tuân thủ, quản lý rủi ro trong quản lý thuế, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Một trong những nội dung đáng chú ý là việc xử lý hồ sơ miễn, giảm thuế trên cơ sở mức độ rủi ro của người nộp thuế.

Thông tư 94/2026/TT-BTC: Người nộp thuế không giải trình thuế có thể bị giám sát trọng điểm

Thông tư 94/2026/TT-BTC: Người nộp thuế không giải trình thuế có thể bị giám sát trọng điểm

Thông tư 94/2026/TT-BTC: Người nộp thuế không giải trình thuế có thể bị giám sát trọng điểm

Ngày 01/7/2026, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 94/2026/TT-BTC quy định về quản lý tuân thủ, quản lý rủi ro trong quản lý thuế đã đặt ra các trường hợp người nộp thuế thuộc diện giám sát trọng điểm.

Từ 21/8/2026, không phải xuất trình giấy tờ khi mua hàng miễn thuế nếu đã có dữ liệu điện tử

Từ 21/8/2026, không phải xuất trình giấy tờ khi mua hàng miễn thuế nếu đã có dữ liệu điện tử

Từ 21/8/2026, không phải xuất trình giấy tờ khi mua hàng miễn thuế nếu đã có dữ liệu điện tử

Một trong những điểm mới đáng chú ý của Nghị định 273/2026/NĐ-CP là quy định tạo thuận lợi cho người mua hàng miễn thuế thông qua việc khai thác dữ liệu điện tử từ các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành.