Ngày 09/10/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 384/2026/NĐ-CP quy định xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa sản xuất và lưu thông trong nước. Nghị định có hiệu lực từ 01/01/2027.
Nghị định 384 2026 NĐ CP áp dụng đối với thương nhân tham gia hoạt động sản xuất, thương mại hàng hóa lưu thông trong nước và các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức, cá nhân trong nước có liên quan.
Khoản 1 Điều 4 Nghị định 384 2026 xác định:
Điều 4. Hàng hóa có xuất xứ Việt Nam
1. Hàng hóa có xuất xứ Việt Nam khi thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Hàng hóa có xuất xứ thuần túy Việt Nam theo quy định tại Điều 5 Nghị định này;
b) Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy Việt Nam theo quy định tại Điều 6 Nghị định này.
Như vậy, hàng hóa có xuất xứ Việt Nam thuộc một trong hai trường hợp là có xuất xứ thuần túy hoặc có xuất xứ không thuần túy Việt Nam.

Đối với xuất xứ thuần túy, Điều 5 quy định các trường hợp như cây trồng và sản phẩm từ cây trồng được trồng, thu hoạch tại Việt Nam; động vật được sinh ra hoặc nuôi dưỡng tại Việt Nam và sản phẩm từ các động vật này; sản phẩm thu được từ săn bắt, đánh bắt, nuôi trồng, thu lượm tại Việt Nam; khoáng sản và chất sản sinh tự nhiên được khai thác từ đất, nước, đáy biển hoặc dưới đáy biển của Việt Nam.
Đối với xuất xứ không thuần túy, Điều 6 quy định hàng hóa phải thuộc trường hợp chuyển đổi mã số hàng hóa hoặc có hàm lượng giá trị Việt Nam (VVC) tối thiểu 30%. Theo khoản 2 Điều 3, chuyển đổi mã số là sự thay đổi mã số HS ở cấp độ 04 số từ nguyên liệu không có xuất xứ để sản xuất hàng hóa tại Việt Nam. Thương nhân lựa chọn công thức trực tiếp hoặc gián tiếp để tính VVC và áp dụng trong năm tài chính theo khoản 5 Điều 6.
Riêng hàng hóa công nghệ thông tin và công nghệ số, khoản 4 Điều 6 cho phép tính vào VVC các chi phí nghiên cứu, phát triển; thiết kế, lập trình, số hóa, tự động hóa; thử nghiệm kỹ thuật và kiểm thử phần mềm gắn liền với quy trình tạo ra sản phẩm, thực hiện tại Việt Nam.
Theo Điều 7, các công đoạn gia công, chế biến đơn giản không được xét khi xác định xuất xứ, gồm đóng gói đơn giản, dán hoặc in nhãn, lắp ráp đơn giản và các công đoạn được liệt kê tại Điều này. Khoản 4 Điều 6 quy định không áp dụng khoản 2 Điều 7 và Điều 8 đối với trường hợp hàng hóa công nghệ thông tin, công nghệ số nêu tại khoản này.
Điều 9 yêu cầu chủ thể thể hiện xuất xứ Việt Nam chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin; lưu hồ sơ, chứng từ và chứng minh xuất xứ khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu.
Về chuyển tiếp, Điều 12 cho phép hàng hóa có nhãn thể hiện xuất xứ Việt Nam đúng pháp luật trước ngày Nghị định có hiệu lực tiếp tục sử dụng nhãn đó đến khi hàng hóa hết hạn sử dụng.
RSS