Công văn 8886 Bộ Nội vụ: Biên chế tại vị trí việc làm công chức phải được thống kê theo 3 thời điểm

Theo Đề cương báo cáo kèm Công văn 8886/BNV-TCBC, các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương phải rà soát số biên chế được giao, số viên chức hoặc người làm việc thực tế có mặt tại từng vị trí việc làm công chức ở ba thời điểm cụ thể.

Ba thời điểm được Bộ Nội vụ yêu cầu thống kê tại Đề cương báo cáo kèm Công văn 8886/BNV-TCBC gồm ngày 01/3/2025, ngày 12/3/2026 và ngày 10/8/2026. Việc báo cáo phải được thực hiện cụ thể đối với từng tổ chức hành chính và các tổ chức bên trong của tổ chức đó nếu có.

Đối với tổ chức hành chính đang sử dụng biên chế sự nghiệp, báo cáo phải thể hiện số biên chế sự nghiệp được cơ quan có thẩm quyền giao. Số liệu này bao gồm cả biên chế hưởng lương từ ngân sách nhà nước và biên chế hưởng lương từ nguồn thu theo cơ chế tài chính đặc thù.

Cùng với số biên chế được giao, cơ quan báo cáo phải xác định số viên chức thực tế có mặt, làm việc tại từng vị trí việc làm công chức ở cả ba thời điểm nêu trên.

Biên chế tại vị trí việc làm công chức phải được thống kê theo 3 thời điểm
Biên chế tại vị trí việc làm công chức phải được thống kê theo 3 thời điểm (Ảnh minh họa)

Đối với tổ chức hành chính hoạt động theo cơ chế tài chính, thu nhập đặc thù trước đây chưa được giao biên chế công chức, các bộ, cơ quan ngang bộ phải báo cáo số người làm việc được bố trí theo cơ chế đặc thù. Số người này có thể do tổ chức hành chính tự bố trí hoặc được cơ quan quản lý giao.

Số liệu về biên chế và người làm việc phải được chia theo ba nhóm vị trí việc làm, gồm lãnh đạo, quản lý; chuyên môn, nghiệp vụ; hỗ trợ, phục vụ. Yêu cầu này được áp dụng đối với từng tổ chức hành chính và các tổ chức bên trong nếu có.

Đối với địa phương, Đề cương cũng yêu cầu thống kê số biên chế sự nghiệp được giao và số viên chức làm việc thực tế tại từng vị trí việc làm công chức vào ngày 01/3/2025, 12/3/2026 và 10/8/2026.

Qua đó, báo cáo phải phản ánh cụ thể số biên chế được giao, nguồn hưởng lương, nhóm vị trí việc làm và số người thực tế có mặt tại từng thời điểm trong mỗi tổ chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước.

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
(1 đánh giá)
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Khu công nghệ số tập trung được hưởng ưu đãi như địa bàn đặc biệt khó khăn

Khu công nghệ số tập trung được hưởng ưu đãi như địa bàn đặc biệt khó khăn

Khu công nghệ số tập trung được hưởng ưu đãi như địa bàn đặc biệt khó khăn

Luật Công nghiệp công nghệ số số 71/2025/QH15, được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2025 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, quy định chính sách ưu đãi đầu tư riêng đối với khu công nghệ số tập trung nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp công nghệ số.

Đầu tư xây dựng hạ tầng công nghiệp công nghệ số là ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư

Đầu tư xây dựng hạ tầng công nghiệp công nghệ số là ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư

Đầu tư xây dựng hạ tầng công nghiệp công nghệ số là ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư

Luật Công nghiệp công nghệ số số 71/2025/QH15, được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2025 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, quy định nhiều chính sách ưu đãi nhằm thúc đẩy phát triển hạ tầng phục vụ hoạt động công nghiệp công nghệ số.

Đã có Nghị định 349/2026/NĐ-CP sửa đổi các Nghị định hướng dẫn Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu

Đã có Nghị định 349/2026/NĐ-CP sửa đổi các Nghị định hướng dẫn Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu

Đã có Nghị định 349/2026/NĐ-CP sửa đổi các Nghị định hướng dẫn Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu

Ngày 09/9/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định 349/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu.