Theo khoản 1 Điều 4 Nghị định 212/2026/NĐ-CP, Hệ thống thông tin, Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng được xây dựng tập trung, thống nhất trong phạm vi toàn quốc.
Hệ thống phải bảo đảm hoạt động liên tục, ổn định, thông suốt, cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác và kịp thời phục vụ công tác quản lý nhà nước. Đồng thời, hệ thống phải đáp ứng yêu cầu thực hiện thủ tục trực tuyến toàn trình hoặc trực tuyến một phần, phục vụ công tác theo dõi, giám sát, kiểm tra, thanh tra hoạt động đầu tư xây dựng và bảo đảm kết nối, chia sẻ dữ liệu theo quy định của pháp luật.

Theo Nghị định, Bộ Xây dựng là cơ quan chủ quản của Hệ thống thông tin về hoạt động xây dựng. Theo khoản 3 Điều 4, hệ thống được vận hành tại địa chỉ https://csdlhdxd.gov.vn, bao gồm Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng, hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin, hệ thống phần mềm ứng dụng, dịch vụ phần mềm và nền tảng điện toán đám mây phục vụ việc quản lý, vận hành và khai thác dữ liệu.
Một trong những nội dung quan trọng nhất của Nghị định là việc hình thành cơ sở dữ liệu tập trung về hoạt động xây dựng trên phạm vi cả nước. Theo Điều 6, dữ liệu được thu thập, tạo lập và cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng bao gồm dữ liệu quy hoạch đô thị và nông thôn; dữ liệu dự án đầu tư xây dựng và công trình xây dựng; dữ liệu định mức xây dựng, giá xây dựng, chỉ số giá xây dựng; dữ liệu năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng và các dữ liệu liên quan khác.
Mọi quy hoạch, dự án đầu tư xây dựng, công trình xây dựng, tổ chức và cá nhân tham gia hoạt động xây dựng đều phải được gắn mã định danh duy nhất trên hệ thống. Mã định danh được sử dụng thống nhất trong suốt vòng đời quản lý của đối tượng và là cơ sở để liên thông dữ liệu giữa các thủ tục, các cơ quan quản lý và các cơ sở dữ liệu khác.
Nghị định cũng quy định nguyên tắc số hóa dữ liệu toàn diện. Theo khoản 10 Điều 6, việc thu thập và tạo lập dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng phải được thực hiện thông qua các biểu mẫu điện tử hoặc được tự động thu thập thông qua kết nối, chia sẻ dữ liệu với các cơ sở dữ liệu quốc gia và hệ thống thông tin có liên quan.
Bên cạnh việc phục vụ quản lý nhà nước, hệ thống còn tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính. Khoản 4 Điều 22 quy định cơ quan quản lý nhà nước không được yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp lại các giấy tờ, thông tin đã có trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng. Đồng thời, dữ liệu được kết nối, chia sẻ từ hệ thống được xác định là dữ liệu chính thức để sử dụng trong quản lý nhà nước và giải quyết thủ tục hành chính.
Ngoài chức năng lưu trữ và chia sẻ dữ liệu, Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng còn là nền tảng để phát triển các ứng dụng báo cáo, điều hành, phân tích dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, cảnh báo sớm, hỗ trợ ra quyết định và kiểm soát rủi ro trong lĩnh vực xây dựng. Theo điểm c khoản 5 Điều 4, các nền tảng này được xây dựng trên cơ sở dữ liệu được chuẩn hóa, liên thông và cập nhật theo thời gian thực hoặc gần thời gian thực.
Để bảo đảm tính chính xác của dữ liệu, Nghị định quy định cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phải thực hiện rà soát, cập nhật, chuẩn hóa và điều chỉnh thông tin khi phát hiện dữ liệu trên hệ thống chưa đầy đủ hoặc chưa chính xác. Đồng thời, dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng sau khi được tạo lập, cập nhật đúng thẩm quyền, trình tự và thủ tục sẽ có giá trị khai thác, sử dụng theo quy định của pháp luật về dữ liệu, giao dịch điện tử và xây dựng.
Như vậy, từ ngày 01/7/2026, việc chính thức vận hành Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình chuyển đổi số ngành xây dựng. Hệ thống không chỉ tạo lập kho dữ liệu tập trung, thống nhất trên phạm vi toàn quốc mà còn là nền tảng phục vụ quản lý nhà nước, cải cách thủ tục hành chính và phát triển các ứng dụng số trong lĩnh vực xây dựng trong thời gian tới.
RSS