Một trong những nội dung đáng chú ý của Quy tắc là yêu cầu bảo đảm tính liêm chính, khách quan trong quá trình giải quyết vụ việc thi hành án.
Cụ thể, điểm d khoản 1 Điều 5 Quy tắc ban hành kèm Quyết định 1810 Bộ Tư pháp nghiêm cấm hành vi gợi ý, nhận lợi ích vật chất hoặc phi vật chất dưới bất kỳ hình thức nào từ đương sự, luật sư, cá nhân, tổ chức có liên quan đến vụ việc đang tổ chức thi hành án.

Bên cạnh đó, theo điểm đ khoản 1 Điều 5, trong thời gian tổ chức thi hành án, Chấp hành viên, Thẩm tra viên và Thư ký thi hành án phải hạn chế tiếp xúc riêng, trao đổi công việc ngoài giờ làm việc với đương sự. Trường hợp cần thiết phải tiếp xúc theo yêu cầu công tác thì việc tiếp xúc phải bảo đảm công khai, minh bạch và đúng quy định pháp luật.
Khi giải quyết vụ việc, điểm a và điểm b khoản 1 Điều 5 yêu cầu người thực hiện nhiệm vụ phải có thái độ tôn trọng, chuẩn mực; lắng nghe, hướng dẫn và giải thích đầy đủ, rõ ràng những vấn đề thuộc phạm vi trách nhiệm. Việc thi hành công vụ phải khách quan, công bằng, đúng pháp luật, không phân biệt đối xử, không thiên vị và không để lợi ích cá nhân ảnh hưởng đến quá trình giải quyết công việc.
Vụ việc phải được giải quyết vô tư, không vụ lợi, dựa trên căn cứ pháp luật và hồ sơ thực tế. Người thực hiện nhiệm vụ không được để tình cảm cá nhân hoặc các mối quan hệ xã hội làm sai lệch kết quả thi hành án; đồng thời phải giữ bí mật thông tin, hồ sơ thi hành án theo quy định.
Theo điểm c khoản 1 Điều 5, Chấp hành viên phải kiên nhẫn vận động, thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án. Nếu đương sự không tự nguyện, phải cương quyết áp dụng biện pháp cưỡng chế và biện pháp bảo đảm thi hành án theo đúng quy định pháp luật.
Ngoài ra, điểm e khoản 1 Điều 5 yêu cầu giữ gìn phẩm chất, nhân cách, uy tín nghề nghiệp và không được thỏa hiệp với hành vi vi phạm.
RSS