5 trường hợp đặc biệt được thanh toán BHYT dù chưa có thẻ/chưa xuất trình thẻ

Được đề cập tại Nghị định 188/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế.

5 trường hợp đặc biệt được thanh toán BHYT dù chưa có thẻ/chưa xuất trình thẻ
Có 5 trường hợp được thanh toán BHYT dù chưa có thẻ/chưa xuất trình thẻ (Ảnh minh họa)

Theo đó, các trường hợp được thanh toán bảo hiểm y tế dù chưa có thẻ/chưa xuất trình thẻ tại Nghị định 188/2025/NĐ-CP gồm:

(1) Trẻ dưới 6 tuổi chưa được cấp thẻ BHYT

Khoản 2 Điều 37 (căn cứ theo Điều 70 Nghị định 188, Điều 37 có hiệu lực từ 15/8/2025) quy định: Trẻ dưới 6 tuổi chưa được cấp thẻ BHYT nhưng có giấy chứng sinh hoặc giấy khai sinh thì được làm thủ tục khám chữa bệnh BHYT và được quỹ BHYT thanh toán đầy đủ trong phạm vi quyền lợi như người có thẻ.

(2) Người đang chờ cấp lại, đổi hoặc điều chỉnh thông tin thẻ

Khoản 3 Điều 37 nêu rõ: Người đang chờ cấp lại, đổi thẻ hoặc điều chỉnh thông tin được sử dụng giấy hẹn do cơ quan BHXH cấp và giấy tờ chứng minh nhân thân để khám chữa bệnh BHYT và được thanh toán theo đúng quyền lợi.

(3) Người cấp cứu, mất ý thức hoặc tử vong chưa xuất trình được thẻ

Khoản 1 Điều 54 (theo Điều 70 Nghị định 188, Điều 54 có hiệu lực từ 01/7/2025) quy định: Người trong tình trạng mất ý thức, tử vong hoặc cấp cứu khẩn cấp chưa xuất trình được thẻ vẫn được thanh toán nếu cơ sở khám chữa bệnh xác minh được thông tin tham gia BHYT.

(4) Người có thẻ BHYT bị mất, hỏng, sai thông tin nhưng chưa được điều chỉnh

Cũng theo khoản 1 Điều 54, người đã tham gia BHYT nhưng thẻ bị mất, sai thông tin hoặc chưa cập nhật vẫn được thanh toán sau khi xác minh đúng mã số BHYT.

(5) Người thuộc nhóm do ngân sách nhà nước đóng BHYT nhưng chưa được cấp thẻ

Khoản 1 Điều 54 quy định thêm: Người đã có tên trong danh sách tham gia BHYT do ngân sách nhà nước đóng, dù chưa được cấp thẻ, vẫn được thanh toán chi phí khám chữa bệnh nếu có xác nhận từ cơ quan BHXH.

* Điều kiện xác minh và thanh toán

Người bệnh trong các trường hợp trên cần:

  • Xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy chứng sinh, giấy hẹn hoặc các tài liệu xác minh.
  • Cơ sở khám chữa bệnh và cơ quan BHXH xác nhận được mã số BHYT hợp lệ.
  • Việc thanh toán thực hiện theo mức hưởng BHYT tương ứng với đối tượng.

Quy định cũ tại Nghị định 146/2018/NĐ-CP, các trường hợp như chưa có thẻ, mất thẻ, sai thông tin thẻ chưa được quy định cụ thể, gây khó khăn trong thực tiễn xét duyệt thanh toán BHYT.

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
(1 đánh giá)
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Người chấp hành án sẽ được quản lý bằng số định danh cá nhân từ 01/7/2026

Người chấp hành án sẽ được quản lý bằng số định danh cá nhân từ 01/7/2026

Người chấp hành án sẽ được quản lý bằng số định danh cá nhân từ 01/7/2026

Nghị định 160/2026/NĐ-CP của Chính phủ về cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự đã bổ sung nhiều quy định mới liên quan đến quản lý dữ liệu người chấp hành án, trong đó đáng chú ý là việc quản lý bằng số định danh cá nhân. 

Từ hôm nay, 18/5/2026, Chủ tịch UBND cấp xã được tước chứng chỉ hành nghề luật sư

Từ hôm nay, 18/5/2026, Chủ tịch UBND cấp xã được tước chứng chỉ hành nghề luật sư

Từ hôm nay, 18/5/2026, Chủ tịch UBND cấp xã được tước chứng chỉ hành nghề luật sư

Theo Nghị định 109/2026/NĐ-CP, từ ngày 18/5/2026, Chủ tịch UBND cấp xã được trao thẩm quyền tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư trong một số trường hợp vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực bổ trợ tư pháp.

Từ 01/9/2026, phải công khai thêm nhiều thông tin về đất đai, môi trường, chuyển đổi số

Từ 01/9/2026, phải công khai thêm nhiều thông tin về đất đai, môi trường, chuyển đổi số

Từ 01/9/2026, phải công khai thêm nhiều thông tin về đất đai, môi trường, chuyển đổi số

Luật Tiếp cận thông tin 2026, số 01/2026/QH16 đã mở rộng đáng kể phạm vi thông tin bắt buộc phải công khai so với Luật Tiếp cận thông tin 2016, đặc biệt trong các lĩnh vực đất đai, môi trường, y tế, đầu tư công và chuyển đổi số.

Từ 01/01/2027, cấm sử dụng AI và công nghệ để vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo

Từ 01/01/2027, cấm sử dụng AI và công nghệ để vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo

Từ 01/01/2027, cấm sử dụng AI và công nghệ để vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2026 bổ sung nhiều quy định mới về các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Đáng chú ý là quy định nghiêm cấm sử dụng không gian mạng, trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ để vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.