Khi giao dịch trên sàn thương mại điện tử đã phát sinh khấu trừ thuế nhưng sau đó người mua hủy đơn hoặc trả lại hàng, số thuế đã khấu trừ không tiếp tục được tính như đối với một giao dịch hoàn tất.
- 1. Hủy đơn, trả hàng trên sàn thương mại điện tử thì tiền thuế đã khấu trừ được xử lý thế nào?
- 2. Số thuế nộp thay sau khi có đơn hủy, trả hàng được xác định thế nào?
- 3. Sàn thương mại điện tử có phải trả lại số tiền thuế đã khấu trừ khi hủy đơn, trả hàng không?
- 4. Sàn thương mại điện tử thực hiện khấu trừ thuế vào thời điểm nào?
- 5. Sàn thương mại điện tử có trách nhiệm gì khi khấu trừ, nộp thay thuế?
1. Hủy đơn, trả hàng trên sàn thương mại điện tử thì tiền thuế đã khấu trừ được xử lý thế nào?
Theo khoản 2 Điều 45 Nghị định 252/2026/NĐ-CP, đối với giao dịch bị hủy hoặc trả lại hàng, chủ quản nền tảng thương mại điện tử thực hiện bù trừ số thuế đã khấu trừ, nộp thay của giao dịch bị hủy hoặc trả lại hàng với số thuế phải khấu trừ, nộp thay của các giao dịch bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ.
Cụ thể, khoản 2 Điều 45 Nghị định 252/2026/NĐ-CP quy định:
- Chủ quản nền tảng thương mại điện tử thực hiện khai số thuế đã khấu trừ theo tháng.
- Đối với giao dịch bị hủy hoặc trả lại hàng thì chủ quản nền tảng thương mại điện tử thực hiện bù trừ số thuế đã khấu trừ, nộp thay của giao dịch bị hủy hoặc trả lại hàng với số thuế phải khấu trừ, nộp thay của các giao dịch bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ.
- Số thuế nộp thay của chủ quản nền tảng thương mại điện tử được xác định bằng tổng số thuế của các giao dịch bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ sau khi bù trừ với tổng số thuế các giao dịch bị hủy hoặc trả lại hàng của tổ chức nước ngoài, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh (nếu có).
Theo cơ chế này, giao dịch bị hủy hoặc trả lại hàng được đưa vào phần bù trừ khi xác định số thuế thực tế phải nộp thay của chủ quản nền tảng thương mại điện tử.

2. Số thuế nộp thay sau khi có đơn hủy, trả hàng được xác định thế nào?
Theo khoản 2 Điều 45 Nghị định 252/2026/NĐ-CP, số thuế nộp thay không được xác định chỉ bằng tổng số thuế đã khấu trừ của toàn bộ giao dịch phát sinh trong kỳ.
Số thuế nộp thay của chủ quản nền tảng thương mại điện tử được xác định = Tổng số thuế của các giao dịch bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ - Tổng số thuế của các giao dịch bị hủy hoặc trả lại hàng.
Trong trường hợp kỳ khai thuế có phát sinh cả giao dịch hoàn thành và giao dịch bị hủy hoặc trả hàng, chủ quản nền tảng thực hiện tổng hợp số thuế của các giao dịch phát sinh, sau đó bù trừ phần thuế tương ứng của các giao dịch không còn được thực hiện do hủy đơn hoặc trả lại hàng.
3. Sàn thương mại điện tử có phải trả lại số tiền thuế đã khấu trừ khi hủy đơn, trả hàng không?
Tại điểm d khoản 1 Điều 46 Nghị định 252/2026/NĐ-CP quy định chủ quản nền tảng thương mại điện tử thuộc đối tượng khấu trừ, nộp thay thuế có trách nhiệm:
d) Thực hiện trả đầy đủ, kịp thời số tiền thuế đã khấu trừ, nộp thay của nhà cung cấp nước ngoài, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh đối với các giao dịch bị hủy hoặc trả lại hàng;
Như vậy, chủ quản nền tảng thương mại điện tử có trách nhiệm phải trả lại số tiền thuế đã khấu trừ đối với các giao dịch bị hủy hoặc trả lại hàng.
4. Sàn thương mại điện tử thực hiện khấu trừ thuế vào thời điểm nào?
Theo điểm b khoản 1 Điều 44 Nghị định 252/2026/NĐ-CP, đối với chủ quản nền tảng thương mại điện tử, thời điểm thực hiện khấu trừ thuế là thời điểm xác nhận giao dịch thành công và chấp nhận thanh toán theo quy định của nền tảng.
Quy định này xác định thời điểm số thuế được khấu trừ đối với giao dịch phát sinh trên nền tảng thương mại điện tử. Trường hợp sau thời điểm này giao dịch bị hủy hoặc hàng hóa bị trả lại thì số thuế đã khấu trừ, nộp thay được xử lý theo cơ chế bù trừ tại khoản 2 Điều 45 Nghị định 252/2026/NĐ-CP, ở phần nội dung thứ (1).
5. Sàn thương mại điện tử có trách nhiệm gì khi khấu trừ, nộp thay thuế?
Trách nhiệm của chủ quản nền tảng thương mại điện tử thuộc đối tượng khấu trừ, nộp thay số thuế đã khấu trừ được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 46 Nghị định 252/2026/NĐ-CP như sau:
- Thứ nhất, thực hiện quản lý tên và mật khẩu của các tài khoản đã được cơ quan thuế cấp; lưu giữ dữ liệu giao dịch kinh doanh, thông tin và tài liệu liên quan đến việc xác định số thuế phải nộp, số thuế đã khấu trừ của nhà cung cấp nước ngoài, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh theo quy định pháp luật về quản lý thuế;
- Thứ hai, thực hiện khấu trừ thuế, kê khai số thuế đã khấu trừ, nộp thay số thuế đã khấu trừ chính xác, đầy đủ theo thông tin cung cấp của nhà cung cấp nước ngoài, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh và theo quy định tại Nghị định này; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của hồ sơ thuế;
- Thứ ba, cung cấp thông tin khác về hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế theo quy định của pháp luật về quản lý thuế;
- Thứ tư, thực hiện trả đầy đủ, kịp thời số tiền thuế đã khấu trừ, nộp thay của nhà cung cấp nước ngoài, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh đối với các giao dịch bị hủy hoặc trả lại hàng;
- Cuối cùng, thực hiện trách nhiệm theo quy định tại Điều 14 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP, cụ thể bao gồm:
+ Kê khai đầy đủ, chính xác, đúng thời hạn doanh thu và số thuế phải nộp; nộp thuế vào ngân sách nhà nước theo quy định.
+ Chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi chậm kê khai, chậm nộp, kê khai sai, khấu trừ hoặc nộp thuế không đúng quy định theo quy định của Luật Quản lý thuế.
+ Trường hợp tổ chức, cá nhân khai thuế thay, nộp thuế thay cho cá nhân không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy định của pháp luật thuế và pháp luật khác có liên quan thì bị xử lý theo quy định của Luật Quản lý thuế.
Trên đây là thông tin về “Hủy đơn, trả hàng trên sàn thương mại điện tử thì tiền thuế đã khấu trừ được xử lý thế nào?”. Theo Nghị định 252/2026/NĐ-CP, số thuế đã khấu trừ, nộp thay của giao dịch bị hủy hoặc trả lại hàng được bù trừ với số thuế phải khấu trừ, nộp thay của các giao dịch bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ.
RSS