Hoạt động mua, bán nợ của ngân hàng liên quan trực tiếp đến việc chuyển giao quyền đòi nợ, điều kiện của khoản nợ, phương thức giao dịch và quyền, nghĩa vụ của các bên. Ngân hàng Nhà nước đã ban hành quy định mới để thay thế các thông tư trước đây về hoạt động mua, bán nợ. Vậy văn bản mới nhất quy định về mua bán nợ của ngân hàng là văn bản nào, khi nào văn bản mới được áp dụng?
1. Văn bản mới nhất quy định về mua bán nợ của ngân hàng là văn bản nào?
Văn bản mới nhất quy định trực tiếp về hoạt động mua, bán nợ của ngân hàng là Thông tư 33/2026/TT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Thông tư 33/2026/TT-NHNN được ban hành ngày 30/6/2026. Căn cứ khoản 1 Điều 34 Thông tư 33/2026/TT-NHNN, Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20 tháng 11 năm 2026.
Như vậy, Thông tư 33/2026/TT-NHNN là văn bản mới nhất được ban hành quy định về mua bán nợ của ngân hàng, có hiệu lực từ ngày 20/11/2026.

2. Khoản nợ của cá nhân, tổ chức phải đáp ứng điều kiện gì để được mua, bán?
Tại Điều 4 Thông tư 33/2026/TT-NHNN quy định:
Điều 4. Điều kiện khoản nợ được mua, bán
Khoản nợ được mua, bán phải đáp ứng các điều kiện sau:
1. Hồ sơ, chứng từ và các tài liệu có liên quan của khoản nợ được mua, bán, hợp đồng bảo đảm (nếu có) do bên bán nợ cung cấp phải phản ánh đầy đủ, chính xác thực trạng khoản nợ theo đúng quy định của pháp luật.
2. Bên bán nợ không có thỏa thuận bằng văn bản về việc không được mua, bán đối với khoản nợ.
3. Khoản nợ không bị kê biên theo quy định pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại thời điểm mua, bán nợ.
4. Khoản nợ không được sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự tại thời điểm mua, bán nợ trừ trường hợp bên nhận bảo đảm đồng ý bằng văn bản về việc bán nợ.
Như vậy, khoản nợ được mua, bán phải đáp ứng các điều kiện sau:
- Hồ sơ, chứng từ và các tài liệu có liên quan của khoản nợ được mua, bán, hợp đồng bảo đảm (nếu có) do bên bán nợ cung cấp phải phản ánh đầy đủ, chính xác thực trạng khoản nợ theo đúng quy định của pháp luật.
- Bên bán nợ không có thỏa thuận bằng văn bản về việc không được mua, bán đối với khoản nợ.
- Khoản nợ không bị kê biên theo quy định pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại thời điểm mua, bán nợ.
- Khoản nợ không được sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự tại thời điểm mua, bán nợ, trừ trường hợp bên nhận bảo đảm đồng ý bằng văn bản về việc bán nợ.
Như vậy, để một khoản nợ được mua, bán hợp pháp phải đáp ứng các điều kiện theo quy định nêu trên.
3. Ngân hàng mua, bán nợ phải tuân thủ nguyên tắc nào?
Điều 5 Thông tư 33/2026/TT-NHNN quy định một số nguyên tắc đối với hoạt động mua, bán nợ.
Trước hết, hoạt động mua, bán nợ không trái với nội dung quy định tại hợp đồng, thỏa thuận cấp tín dụng, hợp đồng bảo đảm, các thỏa thuận khác (nếu có) đã ký kết giữa bên bán nợ, bên nợ và bên bảo đảm.
Thứ hai, hoạt động mua, bán nợ do các bên tự thỏa thuận, tự chịu trách nhiệm, tuân thủ quy định tại Thông tư 33/2026/TT-NHNN và quy định của pháp luật có liên quan.
Thứ ba, ngân hàng không cần được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy phép khi bán nợ.
Thứ tư, ngân hàng mua nợ phải đảm bảo tỷ lệ nợ xấu nội bảng dưới 3% tại kỳ phân loại nợ gần nhất theo quy định của Ngân hàng Nhà nước về phân loại tài sản có trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại thời điểm trước khi ký hợp đồng mua, bán nợ.
Thứ năm, ngân hàng không mua lại khoản nợ đã bán.
Thứ sáu, ngân hàng không mua, bán nợ với công ty con (trừ mua, bán nợ với công ty con là công ty quản lý nợ và khai thác tài sản). Hoạt động mua, bán nợ của ngân hàng với công ty quản lý nợ và khai thác tài sản là công ty con của ngân hàng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước về hoạt động của công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng trong lĩnh vực quản lý nợ và khai thác tài sản.
Thứ bảy, ngân hàng không được cấp tín dụng cho khách hàng để mua nợ thuộc sở hữu của chính ngân hàng đó.
Thứ tám, các khoản nợ đã mua (bao gồm cả khoản nợ được mua lại), đã bán, ngân hàng quản lý, theo dõi và báo cáo thống kê theo quy định của pháp luật.
Thứ chín, ngân hàng khi thực hiện mua, bán nợ theo phương án cơ cấu lại đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt không phải các nguyên tắc thứ tư, nguyên tắc thứ năm, nguyên tắc thứ sáu, nguyên tắc thứ bảy nêu trên.
Cuối cùng, ngân hàng đang thực hiện phương án cơ cấu lại tổ chức tín dụng đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt nếu có thực hiện mua, bán nợ ngoài mua, bán nợ theo phương án cơ cấu lại thì phải thực hiện quản lý, theo dõi riêng các khoản mua, bán nợ theo phương án cơ cấu lại và các khoản mua, bán nợ ngoài phương án cơ cấu lại để phục vụ công tác báo cáo, thanh tra, kiểm tra, giám sát theo quy định pháp luật.
4. Mua, bán nợ ngân hàng được thực hiện theo phương thức nào?
Theo Điều 10 Thông tư 33/2026/TT-NHNN, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài quyết định lựa chọn một trong hai phương thức mua, bán nợ sau:
- Thỏa thuận: Mua, bán nợ thông qua đàm phán trực tiếp giữa bên bán nợ và bên mua nợ hoặc gián tiếp thông qua bên môi giới.
- Đấu giá: Bên bán nợ ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản với tổ chức hành nghề đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật về đấu giá tài sản.
Như vậy việc mua, bán nợ ngân hàng có thể được thực hiện theo phương thức thỏa thuận hoặc đấu giá.
Trên đây là thông tin về “Văn bản mới nhất quy định về mua bán nợ của ngân hàng là văn bản nào?”. Vui lòng xem chi tiết Thông tư 33/2026/TT-NHNN trên LuatVietnam.vn và các tính năng liên quan như: Tình trạng hiệu lực, Lược đồ văn bản...
RSS