Ngân hàng được mua, bán nợ bằng những phương thức nào?

Thông tư 33/2026/TT-NHNN quy định cụ thể phương thức mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có thể lựa chọn khi thực hiện hoạt động mua, bán nợ. Vậy ngân hàng được mua, bán nợ bằng những phương thức nào và việc định giá khoản nợ được thực hiện ra sao?
 

1. Ngân hàng được mua, bán nợ bằng những phương thức nào?

Căn cứ Điều 10 Thông tư 33/2026/TT-NHNN có quy định như sau:

Điều 10. Phương thức mua, bán nợ
Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài quyết định lựa chọn một trong các phương thức mua, bán nợ sau:
1. Thỏa thuận: Mua, bán nợ thông qua đàm phán trực tiếp giữa bên bán nợ và bên mua nợ hoặc gián tiếp thông qua bên môi giới.
2. Đấu giá: Bên bán nợ ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản với tổ chức hành nghề đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật về đấu giá tài sản.

Như vậy, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài quyết định lựa chọn một trong các phương thức mua, bán nợ sau:

  • Thỏa thuận: Mua, bán nợ thông qua đàm phán trực tiếp giữa bên bán nợ và bên mua nợ hoặc gián tiếp thông qua bên môi giới.
  • Đấu giá: Bên bán nợ ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản với tổ chức hành nghề đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật về đấu giá tài sản. 
Ngân hàng được mua, bán nợ bằng những phương thức nào?
Ngân hàng được mua, bán nợ bằng những phương thức nào? (Ảnh minh họa)

2. Khoản nợ được định giá như thế nào khi mua, bán?

Theo khoản 1 Điều 11 Thông tư 33/2026/TT-NHNN, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải thực hiện định giá khoản nợ để xác định:

  • Giá khởi điểm đối với trường hợp mua, bán nợ theo phương thức bán đấu giá;
  • Giá để đàm phán mua, bán nợ đối với trường hợp mua, bán nợ theo phương thức thỏa thuận.

Ngoài ra, Điều 11 còn quy định cho phép tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được quyền xem xét lựa chọn việc định giá khoản nợ theo các phương thức sau:

- Một là, tự định giá khoản nợ:

Việc tự định giá khoản nợ theo một hoặc các cơ sở sau:

  • Giá trị ghi sổ khoản nợ được mua, bán tại thời điểm định giá, phân loại nhóm khoản nợ, tài sản bảo đảm (nếu có), tình hình tài chính của bên nợ và các yếu tố khác có ảnh hưởng đến giá trị khoản nợ (nếu có) tại thời điểm định giá;
  • Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam do Bộ Tài chính ban hành.iệc định giá được thực hiện theo một hoặc các cơ sở sau:

- Hai là, thuê doanh nghiệp thẩm định giá có đủ điều kiện theo quy định pháp luật về Giá để thực hiện xác định giá trị khoản nợ.

3. Ngân hàng có được mua, bán nợ bằng phương tiện điện tử không?

Căn cứ khoản 1 Điều 29 Thông tư 33/2026/TT-NHNN quy định:

Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được lựa chọn thực hiện mua, bán nợ bằng phương tiện điện tử. Việc thực hiện mua, bán nợ bằng phương tiện điện tử phù hợp với quy định tại Thông tư này; quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền; giao dịch điện tử; bảo vệ dữ liệu cá nhân; an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến trong ngành ngân hàng và các quy định của pháp luật có liên quan. 

Như vậy, ngân hàng được mua, bán nợ bằng phương tiện điện tử, nhưng phải bảo đảm tuân thủ đầy đủ các quy định về giao dịch điện tử, phòng chống rửa tiền, giao dịch điện tử; bảo vệ dữ liệu cá nhân, an toàn và bảo mật trong hoạt động ngân hàng và các quy định của pháp luật có liên quan..

Ngân hàng khi mua, bán nợ bằng phương tiện điện tử phải đảm bảo phù hợp với quy định tại Thông tư 33/2026/TT-NHNN; quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền; giao dịch điện tử; bảo vệ dữ liệu cá nhân; an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến trong ngành ngân hàng và các quy định của pháp luật có liên quan.

4. Ngân hàng được bán một phần khoản nợ hoặc bán cho nhiều bên mua không?

Theo Điều 14 Thông tư 33/2026/TT-NHNN, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được bán một phần khoản nợ hoặc bán một khoản nợ cho nhiều bên mua nợ. 
Khi ngân hàng thực hiện việc bán một phần khoản nợ hoặc bán một khoản nợ cho nhiều bên mua nợ cần chú ý đảm bảo các quy định sau: 

- Về quản lý khoản nợ và hồ sơ liên quan.

Trường hợp bên bán nợ còn sở hữu một phần khoản nợ được mua, bán, bên bán nợ phải tiếp tục làm đầu mối thực hiện quản lý hồ sơ, tài liệu, các biện pháp bảo đảm (nếu có) và các vấn đề khác liên quan của khoản nợ. Phần nợ chưa bán, bên bán nợ tiếp tục thực hiện quản lý, theo dõi, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo quy định của pháp luật.

Trường hợp, bên bán nợ không còn sở hữu khoản nợ được mua, bán và đã nhận đầy đủ số tiền mua nợ, việc chuyển giao hồ sơ, tài liệu, các biện pháp bảo đảm của khoản nợ (nếu có) và các vấn đề khác liên quan đến khoản nợ của bên bán nợ cho các bên mua nợ được thực hiện theo hợp đồng mua, bán nợ và thỏa thuận của các bên mua nợ, phù hợp với quy định của pháp luật.

- Về quyền và nghĩa vụ của các bên.

Quyền, nghĩa vụ của các bên và việc xử lý các vấn đề phát sinh trong trường hợp bên bán nợ làm đầu mối thực hiện quản lý hồ sơ, tài liệu, các biện pháp bảo đảm và các vấn đề khác liên quan của khoản nợ quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện theo thỏa thuận của các bên phù hợp với quy định của pháp luật.

- Về xử lý tài chính.
Trong trường hợp bán một phần khoản nợ hoặc bán một khoản nợ cho nhiều bên mua nợ, việc xử lý tài chính và các vấn đề liên quan khác đối với phần nợ được mua, bán của bên mua nợ và bên bán nợ được thực hiện như quy định đối với mua, bán khoản nợ và quy định nêu trên.

Trên đây là thông tin về “Ngân hàng được mua, bán nợ bằng những phương thức nào?”. Theo Thông tư 33/2026/TT-NHNN, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được lựa chọn mua, bán nợ theo phương thức thỏa thuận hoặc đấu giá. Vui lòng xem chi tiết Thông tư 33/2026/TT-NHNN trên LuatVietnam.vn và các tính năng liên quan như: Tình trạng hiệu lực, Lược đồ văn bản...

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Đã có Bảng so sánh Nghị định 316/2026/NĐ-CP và Nghị định 135/2025/NĐ-CP về chế độ tài chính đối với tổ chức tín dụng

Đã có Bảng so sánh Nghị định 316/2026/NĐ-CP và Nghị định 135/2025/NĐ-CP về chế độ tài chính đối với tổ chức tín dụng

Đã có Bảng so sánh Nghị định 316/2026/NĐ-CP và Nghị định 135/2025/NĐ-CP về chế độ tài chính đối với tổ chức tín dụng

Bảng so sánh đối chiếu trực tiếp với các quy định cũ, chỉ rõ nội dung sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ và nhận xét điểm thay đổi, hỗ trợ tra cứu, áp dụng quy định mới nhanh chóng, chính xác.