Nghị định 269/2026/NĐ-CP quy định cụ thể cách nhận diện văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số đang có nguy cơ suy giảm, thất truyền hoặc biến mất. Việc xác định này được thực hiện trên cơ sở các tiêu chí về người nắm giữ, người kế cận, mức độ thực hành, không gian văn hóa và khả năng duy trì trao truyền. Vậy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số được xác định có nguy cơ mai một theo những tiêu chí nào?
- 1. Văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số được xác định có nguy cơ mai một theo những tiêu chí nào?
- 1.1. Văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số được xác định có nguy cơ mai một theo những tiêu chí nào?
- 1.2. Văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một được hiểu như thế nào?
- 1.3. Ai có trách nhiệm rà soát văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một?
- 2. Thời hạn rà soát lại danh mục văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một
1. Văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số được xác định có nguy cơ mai một theo những tiêu chí nào?
1.1. Văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số được xác định có nguy cơ mai một theo những tiêu chí nào?
Khoản 1 Điều 3 Nghị định 269/2026/NĐ-CP định nghĩa “văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số” là giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể do cộng đồng các dân tộc thiểu số sáng tạo, gìn giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ, góp phần tạo nên sự đa dạng, thống nhất trong nền văn hóa Việt Nam.
“Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số là giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể do cộng đồng các dân tộc thiểu số sáng tạo, gìn giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ, góp phần tạo nên sự đa dạng, thống nhất trong nền văn hóa Việt Nam.”
Tuy nhiên, trong quá trình tồn tại và trao truyền qua các thế hệ, một số giá trị văn hóa truyền thống có thể bị suy giảm, gián đoạn hoặc đứng trước nguy cơ thất truyền. Để xác định những trường hợp này, khoản 2 Điều 5 Nghị định 269/2026/NĐ-CP quy định cụ thể các tiêu chí nhận diện văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một như sau:
- Có dưới 20 cá nhân sinh sống trong cộng đồng am hiểu, nắm giữ, thực hành và trao truyền văn hóa truyền thống;
- Có dưới 05 chủ thể văn hóa kế cận thường xuyên tham gia thực hành và tiếp nhận trao truyền văn hóa truyền thống;
- Hoạt động thực hành, trao truyền văn hóa truyền thống đã bị gián đoạn từ 03 năm đến dưới 05 năm liên tục hoặc bị gián đoạn từ 02 năm liên tục đối với dân tộc thiểu số có khó khăn đặc thù;
- Không gian, địa điểm thực hành văn hóa truyền thống bị thu hẹp, biến đổi làm ảnh hưởng đến việc duy trì hoạt động thực hành và trao truyền văn hóa truyền thống;
- Tri thức, kỹ năng, quy trình thực hành văn hóa truyền thống không còn được duy trì, thực hành thường xuyên trong cộng đồng;
- Cộng đồng cư trú trên địa bàn được thống kê có nguyện vọng bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc mình nhưng chưa có khả năng để duy trì thường xuyên hoạt động thực hành và trao truyền văn hóa truyền thống.

1.2. Văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một được hiểu như thế nào?
Khoản 3 Điều 3 Nghị định 269/2026/NĐ-CP quy định:
“Văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một là giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số bị suy giảm, thất truyền hoặc biến mất do không còn hoặc còn rất ít người hiểu biết, nắm giữ và người thực hành, trao truyền được đánh giá theo tiêu chí chuyên môn.”
Theo quy định này, nguy cơ mai một được xác định gắn với ba tình trạng: suy giảm, thất truyền hoặc biến mất.
Nguyên nhân trực tiếp được Nghị định nêu là không còn hoặc còn rất ít người hiểu biết, nắm giữ, thực hành và trao truyền giá trị văn hóa đó.
Khái niệm này cũng là cơ sở để hiểu các tiêu chí tại khoản 2 Điều 5 Nghị định 269/2026/NĐ-CP nêu trên. Các tiêu chí về số người thực hành, người kế cận, thời gian gián đoạn, không gian thực hành hay khả năng duy trì trao truyền đều nhằm xác định mức độ suy giảm của giá trị văn hóa trong cộng đồng.
1.3. Ai có trách nhiệm rà soát văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một?
Khoản 1 Điều 5 Nghị định 269/2026/NĐ-CP quy định:
“Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức rà soát, thống kê, đánh giá thực trạng văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn để xác định văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một.”
Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 13 Nghị định 269/2026/NĐ-CP quy định về trách nhiệm của uỷ ban nhân dân cấp xã như sau:
“Tổ chức rà soát, thống kê thực trạng văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số trên địa bàn; xác định các giá trị văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một, không gian văn hóa truyền thống cần phục hồi, bảo tồn; lập danh sách chủ thể văn hóa nòng cốt, chủ thể văn hóa kế cận trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.”
Như vậy, việc rà soát ban đầu được thực hiện bởi Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi trực tiếp quản lý địa bàn có cộng đồng dân tộc thiểu số sinh sống.
Nội dung rà soát bao gồm thống kê và đánh giá thực trạng văn hóa truyền thống tại địa phương để xác định trường hợp nào đáp ứng các tiêu chí tại khoản 2 Điều 5 Nghị định 269/2026/NĐ-CP.
2. Thời hạn rà soát lại danh mục văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một
Khoản 4 Điều 5 Nghị định 269/2026/NĐ-CP quy định:
“4. Định kỳ 03 năm, Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức rà soát, đánh giá thực trạng, thống kê, báo cáo kết quả phục hồi, bảo tồn văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một gửi cơ quan chuyên môn về văn hóa thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để tổng hợp trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định:
a) Đưa ra khỏi danh mục văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một các trường hợp đã được bảo tồn ổn định và gửi danh mục được cập nhật đến Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực văn hóa dân tộc cập nhật danh mục trên Trang thông tin điện tử của cơ quan làm cơ sở để triển khai;
b) Lập hồ sơ đề nghị phê duyệt danh mục văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một gửi cơ quan chuyên môn về văn hóa thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo tiêu chí quy định tại khoản 2 Điều này.”
Như vậy, định kỳ 03 năm, danh mục văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một sẽ được rà soát lại để cập nhật các trường hợp đã được bảo tồn ổn định hoặc các trường hợp cần tiếp tục, bổ sung vào danh mục theo quy định.
Việc rà soát định kỳ được thực hiện để:
- Đưa ra khỏi danh mục những trường hợp đã được bảo tồn ổn định;
- Lập hồ sơ đề nghị phê duyệt đối với những trường hợp tiếp tục hoặc mới đáp ứng tiêu chí văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một.
Trên đây là thông tin về “Văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số được xác định có nguy cơ mai một theo những tiêu chí nào?”. Vui lòng xem chi tiết Nghị định 269/2026/NĐ-CP trên LuatVietnam.vn và các tính năng liên quan như: Tình trạng hiệu lực, Lược đồ...
RSS