Trường hợp nào từ chối tiếp nhận người đang chấp hành án tù ở nước ngoài về Việt Nam?

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù 2025 nêu rõ điều kiện chuyển giao, trường hợp bắt buộc từ chối chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù từ 01/07/2026.

1. Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù là gì?

Tại khoản 1 Điều 3 Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù 2025 quy định  chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù là việc Việt Nam và nước ngoài chuyển giao cho nhau người đang chấp hành án phạt tù có nguyện vọng được chuyển về nước đồng ý tiếp nhận để tiếp tục chấp hành án phạt tù trên cơ sở quy định của pháp luật trong nước, điều ước quốc tế hoặc nguyên tắc có đi có lại.

Trường hợp nào từ chối tiếp nhận người đang chấp hành án tù ở nước ngoài về Việt Nam?
Trường hợp nào từ chối tiếp nhận người đang chấp hành án tù ở nước ngoài về Việt Nam? (Ảnh minh hoạ)

2. Những trường hợp từ chối tiếp nhận người đang chấp hành án tù ở nước ngoài về Việt Nam

Căn cứ Điều 16 Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù 2025 quy định tòa án nhân dân có thẩm quyền quyết định từ chối tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Không phù hợp với nguyên tắc quy định tại khoản 2 Điều 4 của Luật này;

+ Tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi; phù hợp với Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

+ Trường hợp Việt Nam và nước ngoài không cùng là thành viên của điều ước quốc tế về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù thì việc chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù được thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế;

+ Tôn trọng, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người đang chấp hành án phạt tù.

- Không đáp ứng một trong các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 15 của Luật này;

+ Là công dân Việt Nam;

+ Hành vi phạm tội mà người đó bị kết án ở nước chuyển giao cũng cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật về hình sự của Việt Nam vào thời điểm lập yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù;

+ Vào thời điểm nhận được yêu cầu chuyển giao, thời hạn chưa chấp hành án phạt tù phải còn ít nhất là 01 năm; trong trường hợp đặc biệt, thời hạn này có thể ít hơn 01 năm;

+ Bản án, quyết định đối với người đó đã có hiệu lực pháp luật, không còn thủ tục tố tụng nào đang chờ xử lý;

- Có sự đồng ý của Việt Nam trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao lập yêu cầu chuyển giao hoặc sự đồng ý của nước chuyển giao trong trường hợp Bộ Công an lập yêu cầu chuyển giao;

- Có sự đồng ý của người đang chấp hành án phạt tù; trường hợp người đang chấp hành án phạt tù là người chưa thành niên, người không có khả năng bày tỏ sự đồng ý với việc chuyển giao vì lý do tuổi tác, tình trạng sức khỏe và trạng thái tinh thần thì phải có sự đồng ý của người đại diện hợp pháp.

- Có thể phương hại đến chủ quyền, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe cộng đồng và lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân tại Việt Nam;

- Vượt quá khả năng đáp ứng các yêu cầu cần thiết cho việc tiếp tục thi hành án tại Việt Nam của người đang chấp hành án phạt tù.

Trên đây là những trường hợp từ chối tiếp nhận người đang chấp hành mới được bổ sung so với quy định tại Luật tương trợ tư pháp 2007 không quy định.

3. Quy định về nguyên tắc chuyển đổi hình phạt tù trong tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù

Theo Điều 25 cùng Luật quy định 5 nguyên tắc chuyển đổi hình phạt tù trong tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù, như sau:

- Nếu mức án tù mà tòa án nước ngoài đã tuyên không phù hợp với pháp luật Việt Nam, thì khi tiếp nhận người đang chấp hành án về Việt Nam, mức án đó sẽ được điều chỉnh lại cho phù hợp.

- Việc điều chỉnh mức án không làm tùy tiện, mà phải dựa trên toàn bộ nội dung và các tình tiết của vụ án đã được nêu rõ trong bản án, quyết định của tòa án nước ngoài.

- Mức án sau khi điều chỉnh không được nặng hơn mức án mà tòa án nước ngoài đã tuyên, cả về loại hình phạt lẫn thời hạn tù. Thời gian người đó đã chấp hành án ở nước ngoài sẽ được tính và trừ vào thời gian phải chấp hành án tại Việt Nam.

- Người được tiếp nhận về Việt Nam không bị xét xử hay kết án lại đối với tội phạm đã được tòa án nước ngoài tuyên trước đó.

- Việc thực hiện các quy định này sẽ do Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn cụ thể để áp dụng thống nhất.

4. Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù

Điều 13 Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù 2025 quy định trách nhiệm của từng cơ quan nhà nước, như sau:

- Chính phủ là cơ quan thống nhất quản lý chung việc chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù giữa Việt Nam và các nước khác. Hằng năm, Chính phủ có trách nhiệm báo cáo Quốc hội về tình hình, kết quả thực hiện công tác này trong báo cáo thi hành án.

- Bộ Công an là cơ quan chịu trách nhiệm chính trước Chính phủ trong việc quản lý và tổ chức thực hiện hoạt động chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Bộ trưởng Bộ Công an sẽ chủ trì phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao để quy định cụ thể việc ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong công tác này.

- Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công an trong quản lý nhà nước về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Đồng thời, Tòa án và Viện kiểm sát các cấp sẽ thực hiện các nhiệm vụ cụ thể liên quan theo đúng quy định của pháp luật.

- Ngoài ra, các bộ, ngành và cơ quan liên quan khác, trong phạm vi chức năng và nhiệm vụ của mình, cũng có trách nhiệm tham gia thực hiện và phối hợp với Bộ Công an trong quản lý nhà nước về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. 

Trên đây là bài viết "Trường hợp nào từ chối tiếp nhận người đang chấp án tù ở nước ngoài về Việt Nam?"
1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:

Tin cùng chuyên mục

Ngân hàng thương mại được thành lập tối đa bao nhiêu phòng giao dịch?

Ngân hàng thương mại được thành lập tối đa bao nhiêu phòng giao dịch?

Ngân hàng thương mại được thành lập tối đa bao nhiêu phòng giao dịch?

Trong quá trình hoạt động, các ngân hàng thương mại phải tuân thủ nhiều quy định về số lượng và việc thành lập các phòng giao dịch. Vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành, ngân hàng thương mại có thể thành lập tối đa bao nhiêu phòng giao dịch? Bài viết dưới đây sẽ cung cấp thông tin chi tiết.