- 1. Quy định về tuyển sinh lớp 1, lớp 6, lớp 10
- 1.1 Quy định về tuyển sinh đối với lớp 1
- 1.2 Quy định về tuyển sinh đối với lớp 6
- 1.3 Quy định về tuyển sinh đối với lớp 10
- 2. Dự kiến đăng ký, xác nhận nhập học và bố trí chỗ học lớp 1, lớp 6 như thế nào?
- 2.1 Xác định địa bàn chủ yếu theo nơi cư trú thực tế
- 2.2 Đăng ký trực tuyến, được hỗ trợ đăng ký trực tiếp
- 2.3 Xác nhận nhập học theo kế hoạch của địa phương
- 2.4 Trường quá tải phải báo cáo để điều phối học sinh
1. Quy định về tuyển sinh lớp 1, lớp 6, lớp 10
Dự thảo Quy chế tiếp nhận học sinh đầu cấp giáo dục phổ thông quy định riêng về đối tượng, điều kiện và phương thức tiếp nhận học sinh vào lớp 1, lớp 6 và lớp 10. Trong đó, việc tiếp nhận vào lớp 1, lớp 6 gắn với bảo đảm chỗ học theo địa bàn; việc tiếp nhận vào lớp 10 được thực hiện theo phương thức do cấp có thẩm quyền quyết định.
1.1 Quy định về tuyển sinh đối với lớp 1
Theo khoản 1 Điều 5 và khoản 1 Điều 6 dự thảo, trẻ em trong độ tuổi vào lớp 1 được tiếp nhận theo địa bàn hoặc đối tượng do cơ quan có thẩm quyền xác định.
Nhà trường sử dụng thông tin, dữ liệu trong hồ sơ do cơ sở giáo dục mầm non bàn giao và phối hợp huy động trẻ em trong độ tuổi đến trường.
Đáng chú ý, điểm c khoản 1 Điều 6 quy định:
“Không thực hiện kiểm tra, đánh giá, phân loại hoặc tuyển chọn trẻ em dưới bất kỳ hình thức nào để làm căn cứ tiếp nhận trẻ em vào lớp 1.”
Như vậy, dự thảo không cho phép dùng kết quả kiểm tra, đánh giá hoặc phân loại để quyết định việc tiếp nhận trẻ vào lớp 1.
1.2 Quy định về tuyển sinh đối với lớp 6
Theo khoản 2 Điều 5 dự thảo, học sinh đã hoàn thành chương trình tiểu học hoặc tương đương, trong độ tuổi theo quy định, được tiếp nhận vào lớp 6 theo địa bàn.
Về phương thức tiếp nhận, điểm b khoản 2 Điều 6 quy định:
“Không thực hiện phân loại hoặc tuyển chọn học sinh vào lớp 6, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản này.”
Theo điểm c khoản 2 Điều 6, trường hợp đặc biệt là cơ sở giáo dục được giao nhiệm vụ phát hiện, bồi dưỡng học sinh có năng khiếu, thành tích nổi bật phục vụ phát triển giáo dục mũi nhọn của địa phương. Các cơ sở này được tiếp nhận học sinh bằng phương thức xét tuyển.
Việc tuyển chọn phải có trong kế hoạch tiếp nhận học sinh đầu cấp được phê duyệt và không ảnh hưởng đến quyền học tập của học sinh trên địa bàn. Học sinh không được tuyển chọn phải được bố trí chỗ học phù hợp. Tiêu chí xét tuyển do Sở Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn.
1.3 Quy định về tuyển sinh đối với lớp 10
Theo Điều 11 và Điều 12 dự thảo, học sinh đã hoàn thành chương trình trung học cơ sở hoặc tương đương, trong độ tuổi quy định và đáp ứng tiêu chí theo kế hoạch của nhà trường được tiếp nhận vào lớp 10.
Dự thảo đề xuất 03 phương thức tiếp nhận:
- Xét tuyển: Căn cứ kết quả rèn luyện và học tập các năm cấp trung học cơ sở hoặc chương trình tương đương. Nếu lưu ban, lấy kết quả năm học lại của lớp đó.
- Thi tuyển: Thực hiện theo quy định về tổ chức thi.
- Kết hợp thi tuyển với xét tuyển: Kết hợp hai phương thức trên.
Sở Giáo dục và Đào tạo tham mưu để UBND cấp tỉnh quyết định phương thức áp dụng cho từng trường hoặc nhóm trường. Cách tính điểm và nguyên tắc xét tuyển phải được quy định trong kế hoạch và công khai trước khi học sinh đăng ký.
Về số môn thi, điểm a khoản 2 Điều 13 đề xuất:
“Số môn thi gồm 02 (hai) môn: Toán và Ngữ văn;”
Thời gian làm bài môn Ngữ văn là 120 phút, môn Toán là 90 phút hoặc 120 phút. Nội dung thi không vượt quá yêu cầu cần đạt của chương trình giáo dục phổ thông cấp trung học cơ sở.
Riêng trường trung học phổ thông chuyên, học sinh thi Toán, Ngữ văn và 01 môn chuyên.
Ngoài ra, khoản 4 Điều 13 dự thảo quy định:
- Tuyển thẳng: Áp dụng với học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú cấp trung học cơ sở, học sinh là người dân tộc thiểu số rất ít người và học sinh khuyết tật. Các trường hợp khác do Sở Giáo dục và Đào tạo xác định theo quy định.
- Điểm ưu tiên: Nhóm 1 được cộng 1,0 điểm; nhóm 2 được cộng 0,5 điểm vào tổng điểm xét tuyển tính theo thang điểm 10 đối với mỗi môn thi. Mỗi học sinh chỉ được hưởng mức ưu tiên cao nhất.
- Điểm khuyến khích: Sở Giáo dục và Đào tạo xác định đối tượng được cộng điểm. Tổng điểm khuyến khích không quá 1,0 điểm, được cộng một lần vào tổng điểm xét tuyển sau khi quy đổi về thang điểm tương ứng với số môn thi.

2. Dự kiến đăng ký, xác nhận nhập học và bố trí chỗ học lớp 1, lớp 6 như thế nào?
Bên cạnh phương thức tiếp nhận từng cấp học, dự thảo đề xuất khai thác dữ liệu dân cư, dữ liệu ngành Giáo dục và tổ chức đăng ký trên môi trường số để giảm thủ tục cho học sinh, phụ huynh. Cụ thể:
2.1 Xác định địa bàn chủ yếu theo nơi cư trú thực tế
Theo khoản 4 Điều 3 dự thảo, địa bàn tiếp nhận học sinh chủ yếu được xác định theo nơi cư trú thực tế, căn cứ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoặc nguồn thông tin hợp pháp khác.
Nếu thông tin cư trú chưa đầy đủ, có sai lệch hoặc thay đổi, nhà trường phối hợp với cơ quan liên quan để xác minh. Với địa bàn giáp ranh, khu dân cư mới hoặc trường hợp khó xác định địa bàn, cơ quan có thẩm quyền điều phối, bố trí chỗ học phù hợp.
2.2 Đăng ký trực tuyến, được hỗ trợ đăng ký trực tiếp
Học sinh, cha mẹ hoặc người giám hộ đăng ký trực tuyến theo kế hoạch đã công bố. Nếu không đủ điều kiện đăng ký trực tuyến hoặc cần hỗ trợ, có thể đăng ký trực tiếp theo hướng dẫn.
Thông tin đăng ký được điều chỉnh trong thời gian đăng ký. Sau thời hạn này, việc điều chỉnh chỉ được xem xét khi có lý do chính đáng.
Về giấy tờ, khoản 6 Điều 3 yêu cầu:
“không yêu cầu học sinh, cha mẹ hoặc người giám hộ cung cấp lại thông tin, giấy tờ đã có trong cơ sở dữ liệu và đã được cơ quan có thẩm quyền xác thực, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”
Nếu dữ liệu chưa đồng bộ, chưa đầy đủ hoặc có sai lệch, cơ quan quản lý giáo dục và nhà trường phải phối hợp xác minh, cập nhật và tiếp nhận hồ sơ bằng hình thức phù hợp, không ảnh hưởng đến quyền đăng ký của học sinh.
2.3 Xác nhận nhập học theo kế hoạch của địa phương
Cha mẹ hoặc người giám hộ xác nhận nhập học trong thời hạn của kế hoạch tiếp nhận học sinh đầu cấp. Nội dung được đề xuất tại Điều 10 của dự thảo.
Việc xác nhận được thực hiện trên môi trường số. Nếu không thể thực hiện, nhà trường hướng dẫn hình thức phù hợp. Trường hợp đã được tiếp nhận nhưng chưa xác nhận đúng hạn, nhà trường có trách nhiệm thông báo, hướng dẫn và tạo điều kiện hoàn tất thủ tục.
Dự thảo không ấn định lịch đăng ký, xác nhận nhập học chung cho cả nước; các thời điểm này được xác định trong kế hoạch đã được phê duyệt và công khai.
2.4 Trường quá tải phải báo cáo để điều phối học sinh
Nếu số học sinh đăng ký vượt khả năng tiếp nhận hoặc còn học sinh đủ điều kiện chưa có chỗ học, theo khoản 8 Điều 20 dự thảo, nhà trường phải báo cáo cơ quan quản lý trực tiếp để xem xét, điều phối. Nhà trường không được tự ý từ chối tiếp nhận hoặc yêu cầu học sinh chuyển trường khi chưa có phương án của cơ quan có thẩm quyền.
Riêng đối với lớp 10, khoản 7 Điều 9 nêu rõ việc phân bổ, điều phối học sinh không dùng để xác định trúng tuyển theo phương thức thi tuyển hoặc kết hợp thi tuyển với xét tuyển. Việc xác định trúng tuyển và xét tuyển bổ sung căn cứ vào kết quả tuyển sinh, nguyện vọng, chỉ tiêu và nguyên tắc đã được phê duyệt, công khai.
Trên đây là thông tin Quy định về tuyển sinh lớp 1, lớp 6, lớp 10 thay đổi như thế nào?
RSS