Nghị định 328/2026/NĐ-CP quy định về phòng, chống tin giả, tin sai sự thật, trong đó xác định trách nhiệm của cá nhân, tổ chức khi phát hiện thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật. Vậy phát hiện tin giả thì báo cho cơ quan nào? Có thể phản ánh qua những hình thức nào và cơ quan chức năng tiếp nhận, xử lý ra sao?
- 1. Phát hiện tin giả thì báo cho cơ quan nào?
- 1.1. Bộ Công an
- 1.2. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
- 1.3. Bộ Quốc phòng
- 1.4. Bộ Ngoại giao
- 1.5. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ khác và Ủy ban nhân dân các cấp
- 2. Có thể báo tin giả qua những hình thức nào?
- 3. Thông tin mới có dấu hiệu là tin giả thì có được phản ánh không?
1. Phát hiện tin giả thì báo cho cơ quan nào?
Khi phát hiện tin giả, tin sai sự thật, cá nhân, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thông báo với cơ quan chức năng có thẩm quyền để giải quyết, xử lý theo quy trình xử lý tin giả, tin sai sự thật. Nội dung này được quy định tại khoản 3 Điều 13 Nghị định 328/2026/NĐ-CP.
Cụ thể, theo quy định từ Điều 17 đến Điều 21 Nghị định này, tùy theo lĩnh vực và nội dung thông tin, việc tiếp nhận, xử lý tin giả thuộc trách nhiệm của các cơ quan sau:
1.1. Bộ Công an
Bộ Công an có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác, phản ánh tin giả, tin sai sự thật.
Đối với hoạt động kiểm chứng, xác minh, làm rõ, Điều 17 Nghị định 328/2026/NĐ-CP xác định các trường hợp thuộc thẩm quyền của Bộ Công an gồm:
- Thông tin liên quan đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội;
- Thông tin liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực quản lý nhà nước của từ 02 bộ, cơ quan ngang bộ trở lên;
- Thông tin liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực quản lý nhà nước của từ 02 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trở lên;
- Thông tin liên quan đến các cơ quan, đơn vị khác trong hệ thống chính trị ngoài hệ thống cơ quan hành chính nhà nước.
Ngoài ra, Bộ Công an còn có trách nhiệm xử lý tin giả, tin sai sự thật đối với những trường hợp Bộ trực tiếp kiểm chứng, xác minh, làm rõ và những trường hợp các bộ, cơ quan ngang bộ không có thẩm quyền xử lý.
1.2. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Theo Điều 18 Nghị định 328/2026/NĐ-CP, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm tiếp nhận tin báo, tố giác, phản ánh tin giả, tin sai sự thật.
Trường hợp thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật liên quan đến các lĩnh vực khác, Bộ chuyển cho các đơn vị chức năng khác xử lý.
Nếu thông tin có dấu hiệu tội phạm, Bộ chuyển cho cơ quan chức năng có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đồng thời, Bộ có trách nhiệm kiểm chứng, xác minh, làm rõ và xử lý tin giả, tin sai sự thật trong lĩnh vực được Nhà nước giao thẩm quyền quản lý nhà nước.
1.3. Bộ Quốc phòng
Đối với lĩnh vực quân sự, quốc phòng, Bộ Quốc phòng có trách nhiệm:
- Tiếp nhận, xử lý tin báo, tố giác, phản ánh tin giả, tin sai sự thật và khiếu nại, tố cáo về xử lý tin giả, tin sai sự thật;
- Kiểm chứng, xác minh, làm rõ và xử lý tin giả, tin sai sự thật thuộc thẩm quyền của Bộ;
- Chuyển thông tin cho các đơn vị chức năng khác nếu thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật liên quan đến lĩnh vực khác.
Những nhiệm vụ này được quy định cụ thể tại khoản 6, khoản 8 và khoản 9 Điều 19 Nghị định 328/2026/NĐ-CP.
1.4. Bộ Ngoại giao
Việc tiếp nhận, kiểm chứng và xử lý tin giả, tin sai sự thật của Bộ Ngoại giao được quy định tại Điều 20 Nghị định 328/2026/NĐ-CP.
Trong đó, Bộ Ngoại giao có trách nhiệm tiếp nhận tin báo, tố giác, phản ánh; kiểm chứng, xác minh, làm rõ và xử lý tin giả, tin sai sự thật trong lĩnh vực được Nhà nước giao thẩm quyền quản lý.
Với thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật liên quan đến lĩnh vực khác, Bộ chuyển cho đơn vị chức năng khác xử lý. Nếu thông tin có dấu hiệu tội phạm, việc chuyển đến cơ quan có thẩm quyền được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự
1.5. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ khác và Ủy ban nhân dân các cấp
Ngoài các cơ quan nêu trên, các bộ, cơ quan ngang bộ khác và Ủy ban nhân dân các cấp cũng có trách nhiệm tiếp nhận tin báo, tố giác, phản ánh tin giả, tin sai sự thật.
Trong phạm vi lĩnh vực, địa bàn được Nhà nước giao thẩm quyền quản lý, các cơ quan này thực hiện kiểm chứng, xác minh, làm rõ và xử lý tin giả, tin sai sự thật.
Trường hợp thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật liên quan đến lĩnh vực khác thì chuyển cho đơn vị chức năng khác xử lý. Nếu có dấu hiệu tội phạm, thông tin được chuyển đến cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trách nhiệm của các cơ quan này được xác định tại khoản 4, khoản 7 và khoản 10 Điều 21 Nghị định 328/2026/NĐ-CP.

2. Có thể báo tin giả qua những hình thức nào?
Có 05 hình thức báo tin, tố giác, phản ánh thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật, được quy định tại khoản 2 Điều 13 Nghị định 328/2026/NĐ-CP. Cụ thể, việc báo tin có thể thực hiện bằng cách:
- Liên hệ trực tiếp;
- Thông qua đường dây nóng;
- Qua cổng thông tin điện tử của các cơ quan, Bộ, ban, ngành;
- Qua ứng dụng VNeID;
- Gửi văn bản đến các cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật.
Đây là những hình thức được Nghị định quy định để cá nhân, cơ quan, tổ chức báo tin, tố giác, phản ánh thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật.
3. Thông tin mới có dấu hiệu là tin giả thì có được phản ánh không?
Thông tin mới có dấu hiệu giả, sai sự thật cũng thuộc đối tượng được báo tin, tố giác, phản ánh, không nhất thiết phải có kết luận xác thực là tin giả, tin sai sự thật trước khi phản ánh.
Khoản 2 Điều 3 Nghị định 328/2026/NĐ-CP xác định:
"Thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật là thông tin có thể là tin giả, tin sai sự thật."
Đồng thời, khoản 1 Điều 8 Nghị định này cũng quy định các cách phát hiện thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật gồm:
- Phát hiện thông qua cá nhân, cơ quan, tổ chức phản ánh, tố giác tin giả, tin sai sự thật;
- Phát hiện thông qua cơ quan chức năng có thẩm quyền thực hiện giám sát, rà soát, kiểm soát thông tin trong phòng, chống tin giả, tin sai sự thật;
- Phát hiện thông qua rà soát, cảnh báo của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp mạng xã hội, cung cấp dịch vụ thông tin xuyên biên giới hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam;
- Phát hiện thông qua việc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp chuyển yêu cầu đến cơ quan chức năng có thẩm quyền kiểm chứng, xác minh, làm rõ tin giả, tin sai sự thật;
- Phát hiện thông qua yêu cầu kiểm chứng, xác minh, làm rõ của nạn nhân, tổ chức bị ảnh hưởng do thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật.
Căn cứ theo điểm c khoản 2 Điều 9 Nghị định 328/2026/NĐ-CP, sau khi tiếp nhận, cơ quan chức năng có thẩm quyền tiến hành kiểm chứng, xác minh, làm rõ thông tin và đưa ra một trong ba kết luận:
- Thông tin là tin giả, tin sai sự thật;
- Thông tin không phải là tin giả, tin sai sự thật;
- Thông tin không có điều kiện xác thực.
Liên quan đến việc cung cấp tài liệu, khoản 3 Điều 14 Nghị định 328/2026/NĐ-CP quy định: Cá nhân, cơ quan, tổ chức phải cung cấp tài liệu và thông tin liên quan làm căn cứ kiểm chứng, xác minh, làm rõ cho cơ quan chức năng có thẩm quyền khi có yêu cầu nếu thuộc đối tượng:
- Thực hiện khiếu nại, tố cáo về xử lý tin giả, tin sai sự thật;
- Có liên quan đến việc xử lý tin giả, tin sai sự thật
Trên đây là thông tin về “Phát hiện tin giả thì báo cho cơ quan nào?” theo Nghị định 328/2026/NĐ-CP. Bạn đọc có thể tra cứu toàn văn Nghị định và các quy định liên quan tại LuatVietnam.vn.
RSS