Danh tính người đăng, phát tán, chia sẻ tin giả có bị công bố không?

Nghị định 328/2026/NĐ-CP quy định về việc kiểm chứng, xác minh, công bố và cảnh báo tin giả, tin sai sự thật, trong đó có nội dung liên quan đến danh tính của cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm. Vậy danh tính người đăng, phát tán, chia sẻ tin giả có bị công bố không?

1. Danh tính người đăng, phát tán, chia sẻ tin giả có bị công bố không?

Theo điểm d khoản 2 Điều 11 Nghị định 328/2026/NĐ-CP, danh tính cá nhân, tổ chức đăng tải, phát tán, chia sẻ tin giả, tin sai sự thật thuộc nội dung được công bố sau khi có kết luận kiểm chứng, xác minh, làm rõ.

Việc công bố phải tuân thủ pháp luật về tiếp cận thông tin, trừ trường hợp pháp luật liên quan có quy định khác.

Theo đó, phạm vi công bố danh tính không chỉ bao gồm người trực tiếp tạo ra hoặc đăng tải tin giả mà còn có cả cá nhân, tổ chức thực hiện các hành vi phát ngôn, lưu trữ, tàng trữ, cung cấp, phát tán, chia sẻ, bình luận tin giả, tin sai sự thật.

Nội dung này cũng được thể hiện tại khoản 3 Điều 3 Nghị định 328/2026/NĐ-CP khi giải thích khái niệm công bố tin giả, tin sai sự thật:

Công bố tin giả, tin sai sự thật là công khai thông tin xác nhận là tin giả, tin sai sự thật, danh tính cá nhân, tổ chức phát ngôn, làm, lưu trữ, tàng trữ, đăng tải, phát tán, chia sẻ, bình luận tin giả, tin sai sự thật.

Trước khi công bố, cơ quan chức năng có thẩm quyền thực hiện xác định danh tính cá nhân, tổ chức liên quan đến tin giả, tin sai sự thật.

Danh tính người đăng, phát tán, chia sẻ tin giả có bị công bố không?
Danh tính người chia sẻ tin giả có bị công bố không? (Ảnh minh họa)

2. Cơ quan nào có thẩm quyền xác định danh tính người đăng, phát tán, chia sẻ tin giả?

Việc xác định danh tính người đăng, phát tán, chia sẻ tin giả được thực hiện trong quá trình kiểm chứng, xác minh, làm rõ thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật.

Theo Điều 9 Nghị định 328/2026/NĐ-CP, các cơ quan chức năng có thẩm quyền kiểm chứng, xác minh, làm rõ tin giả, tin sai sự thật gồm các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp theo thẩm quyền được quy định tại Nghị định này.

Trong quá trình xác minh, các cơ quan trên thực hiện xác định danh tính cá nhân, tổ chức phát ngôn, làm, lưu trữ, tàng trữ, cung cấp, đăng tải, phát tán, chia sẻ, bình luận tin giả, tin sai sự thật.

Trường hợp không xác định được danh tính, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp phối hợp với Bộ Công an để tiến hành xác định danh tính cá nhân, tổ chức có liên quan.

Đồng thời, trong quá trình xác minh nếu phát hiện dấu hiệu tội phạm thì thông tin, vụ việc được chuyển cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015  và Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự 2015.

Sau khi kiểm chứng, xác minh, cơ quan chức năng thực hiện kết luận đối với cá nhân, tổ chức liên quan đến việc phát ngôn, làm, lưu trữ, tàng trữ, cung cấp, đăng tải, phát tán, chia sẻ, bình luận tin giả, tin sai sự thật và mức độ vi phạm.

Sau khi hoàn thành quá trình kiểm chứng, xác minh, việc công bố hoặc cảnh báo tiếp tục được thực hiện theo quy định đối với từng loại tin giả, tin sai sự thật.

3. Trường hợp nào được công bố, cảnh báo tin giả, tin sai sự thật?

Không phải mọi loại tin giả, tin sai sự thật đều được công bố, cảnh báo theo cùng một cách thức. Nghị định 328/2026/NĐ-CP quy định việc công bố, cảnh báo dựa trên kết quả xác minh và phân loại thông tin.

Theo khoản 2 Điều 4 Nghị định 328/2026/NĐ-CP, tin giả, tin sai sự thật phân loại theo pháp luật về tiếp cận thông tin được chia thành 03 nhóm:

  • Thông tin công dân không được tiếp cận;
  • Thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện;
  • Thông tin công dân được tiếp cận.

Trên cơ sở phân loại này, khoản 2 Điều 11 Nghị định 328/2026/NĐ-CP quy định việc công bố, cảnh báo cụ thể như sau:

  • Đối với tin giả, tin sai sự thật có chứa thông tin công dân được tiếp cận: Thực hiện công bố, cảnh báo thông tin là tin giả, tin sai sự thật sau khi thông tin được gắn nhãn tin giả, tin sai sự thật.
  • Đối với tin giả, tin sai sự thật có chứa thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện: Việc công bố phải tuân thủ pháp luật về tiếp cận thông tin. Trường hợp không công bố thì thực hiện cảnh báo để cá nhân, tổ chức thận trọng hoặc không được sử dụng, đăng tải, phát tán thông tin.
  • Đối với tin giả, tin sai sự thật có chứa thông tin công dân không được tiếp cận: Không thực hiện công bố, cảnh báo mà áp dụng biện pháp ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin.

Ngoài ba nhóm nêu trên, Nghị định còn quy định trường hợp thông tin được kết luận là không có điều kiện xác thực thì không công bố nhưng thực hiện cảnh báo để cá nhân, tổ chức thận trọng hoặc không được sử dụng, đăng tải, phát tán thông tin.

Riêng đối với danh tính cá nhân, tổ chức phát ngôn, làm, lưu trữ, tàng trữ, cung cấp, đăng tải, phát tán, chia sẻ, bình luận tin giả, tin sai sự thật, việc công bố được thực hiện sau khi có kết luận kiểm chứng, xác minh, làm rõ và phải tuân thủ pháp luật về tiếp cận thông tin, trừ trường hợp pháp luật liên quan có quy định khác.

4. Thông tin về tin giả, tin sai sự thật được công bố, cảnh báo ở đâu?

Đối với các trường hợp thuộc diện công bố, cảnh báo, Nghị định 328/2026/NĐ-CP quy định cụ thể những hình thức mà cơ quan chức năng có thẩm quyền được áp dụng.

Theo khoản 3 Điều 11, cơ quan chức năng có thẩm quyền căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả thiệt hại từ tin giả, tin sai sự thật để công bố, cảnh báo thông qua các hình thức sau:

  • Gửi đến khu dân cư nơi cá nhân, tổ chức phát ngôn, làm, lưu trữ, tàng trữ, đăng tải, phát tán, chia sẻ, bình luận tin giả, tin sai sự thật và khu dân cư nơi bị ảnh hưởng bởi tin giả, tin sai sự thật để công bố, cảnh báo;
  • Gửi đến cơ quan, tổ chức nơi cá nhân làm việc và cơ quan, tổ chức nơi bị ảnh hưởng bởi tin giả, tin sai sự thật để công bố, cảnh báo;
  • Công bố, cảnh báo tin giả, tin sai sự thật trên trang, cổng thông tin hoặc ứng dụng công khai của cơ quan, đơn vị;
  • Công bố, cảnh báo trên cổng thông tin điện tử của các cơ quan chức năng có thẩm quyền trực tiếp kiểm chứng;
  • Công bố, cảnh báo trên các phương tiện truyền thông đại chúng;
  • Công bố, cảnh báo chính thức cấp nhà nước.

Ngoài các hình thức nêu trên, khoản 12 Điều 17 Nghị định 328/2026/NĐ-CP còn quy định trách nhiệm công bố, cảnh báo tin giả, tin sai sự thật của Bộ Công an.

Theo đó, Bộ Công an thực hiện công bố, cảnh báo trên cổng thông tin điện tử của Bộ Công an, ứng dụng VNeID và các kênh, trang truyền thông phục vụ công tác phòng, chống tin giả, tin sai sự thật.

Đồng thời, Bộ Công an phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công bố, cảnh báo rộng rãi trên các phương tiện truyền thông đại chúng đối với tin giả, tin sai sự thật có nguy cơ gây khủng hoảng truyền thông, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, trật tự quản lý kinh tế.

Đối với thông tin liên quan đến lĩnh vực đối ngoại, các vấn đề quốc tế và quan hệ đối ngoại giữa Việt Nam với các đối tác, Bộ Công an phối hợp với Bộ Ngoại giao để công bố chính thức cấp nhà nước.

Bên cạnh hình thức công bố, cảnh báo, Nghị định còn xác định thời gian thực hiện tương ứng với mức độ nguy hại của tin giả, tin sai sự thật.

5. Thời gian công bố, cảnh báo tin giả, tin sai sự thật được quy định như thế nào?

Theo khoản 4 Điều 11 Nghị định 328/2026/NĐ-CP, thời gian công bố, cảnh báo tin giả, tin sai sự thật được quy định như sau:

  • Đối với tin giả, tin sai sự thật gây hậu quả hoặc có nguy cơ gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, cơ quan chức năng có thẩm quyền phải tiến hành công bố ngay sau khi gắn nhãn;
  • Đối với tin giả, tin sai sự thật nguy hại thì tiến hành công bố, cảnh báo trong thời hạn 12 giờ làm việc kể từ khi được gắn nhãn.

Để xác định từng trường hợp áp dụng thời gian công bố, cảnh báo nêu trên, khoản 1 Điều 4 Nghị định 328/2026/NĐ-CP phân loại tin giả, tin sai sự thật theo độ nguy hại thành hai nhóm.

Thứ nhất, tin giả, tin sai sự thật gây hậu quả hoặc có nguy cơ gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Nhóm này gồm các thông tin tác động tiêu cực trên quy mô lớn đến:

  • An ninh quốc gia, quốc phòng, đối ngoại, trật tự, an toàn xã hội; xâm hại đến uy tín của Đảng, Nhà nước; uy tín, danh dự của lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước;
  • Có khả năng gây khủng hoảng truyền thông, kích động bạo loạn, gây hoang mang sâu sắc trong dư luận xã hội.

Thứ hai, tin giả, tin sai sự thật nguy hại.

Nhóm này bao gồm thông tin tác động trong phạm vi hẹp, xâm hại trực tiếp đến uy tín, danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân cụ thể.

Trên đây là thông tin về “Danh tính người chia sẻ tin giả có bị công bố không?” theo Nghị định 328/2026/NĐ-CP. Để tìm hiểu thêm, bạn đọc có thể tra cứu toàn văn Nghị định và các thông tin liên quan tại LuatVietnam.

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Xác nhận hoàn thành khóa học trực tuyến có thay thế chứng chỉ bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức không?

Xác nhận hoàn thành khóa học trực tuyến có thay thế chứng chỉ bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức không?

Xác nhận hoàn thành khóa học trực tuyến có thay thế chứng chỉ bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức không?

Thông tư 23/2026/TT-BNV quy định riêng về xác nhận hoàn thành khóa học trực tuyến và cấp chứng chỉ bồi dưỡng. Vậy xác nhận hoàn thành khóa học trực tuyến có thay thế chứng chỉ bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức không?

Cán bộ, công chức, viên chức được xác nhận hoàn thành khóa học trực tuyến khi đáp ứng những điều kiện gì?

Cán bộ, công chức, viên chức được xác nhận hoàn thành khóa học trực tuyến khi đáp ứng những điều kiện gì?

Cán bộ, công chức, viên chức được xác nhận hoàn thành khóa học trực tuyến khi đáp ứng những điều kiện gì?

Thông tư 23/2026/TT-BNV quy định điều kiện, hình thức và giá trị của xác nhận hoàn thành khóa học trực tuyến. Vậy cán bộ, công chức, viên chức được xác nhận hoàn thành khóa học trực tuyến khi đáp ứng những điều kiện gì?

Thiết lập khóa học trực tuyến bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức được thực hiện như thế nào?

Thiết lập khóa học trực tuyến bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức được thực hiện như thế nào?

Thiết lập khóa học trực tuyến bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức được thực hiện như thế nào?

Thông tư 23/2026/TT-BNV quy định việc thiết lập khóa học, sử dụng học liệu và quản lý khóa học bắt buộc, tự chọn. Vậy thiết lập khóa học trực tuyến bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức được thực hiện như thế nào?

Quy trình biên soạn giáo trình môn học chung trong giáo dục nghề nghiệp gồm những bước nào?

Quy trình biên soạn giáo trình môn học chung trong giáo dục nghề nghiệp gồm những bước nào?

Quy trình biên soạn giáo trình môn học chung trong giáo dục nghề nghiệp gồm những bước nào?

Biên soạn giáo trình môn học chung phải thực hiện đúng trình tự, bảo đảm yêu cầu về nội dung và nhân sự tham gia. Vậy quy trình biên soạn giáo trình môn học chung trong giáo dục nghề nghiệp gồm những bước nào?

Trường dạy nghề được tự chủ biên soạn, lựa chọn chương trình, giáo trình những môn học chung nào?

Trường dạy nghề được tự chủ biên soạn, lựa chọn chương trình, giáo trình những môn học chung nào?

Trường dạy nghề được tự chủ biên soạn, lựa chọn chương trình, giáo trình những môn học chung nào?

Việc biên soạn, lựa chọn chương trình, giáo trình môn học chung được Thông tư 82/2026/TT-BGDĐT phân định theo từng môn học. Vậy trường dạy nghề được tự chủ biên soạn, lựa chọn chương trình, giáo trình những môn học chung nào?

Trường đại học phải khảo sát mức độ hài lòng của người học và người tốt nghiệp như thế nào?

Trường đại học phải khảo sát mức độ hài lòng của người học và người tốt nghiệp như thế nào?

Trường đại học phải khảo sát mức độ hài lòng của người học và người tốt nghiệp như thế nào?

Khảo sát mức độ hài lòng là một nội dung đánh giá Chuẩn cơ sở giáo dục đại học. Thông tư 83/2026/TT-BGDĐT quy định cụ thể hình thức, câu hỏi, cách tính và yêu cầu đối với phản hồi khảo sát. Vậy trường đại học phải khảo sát mức độ hài lòng của người học và người tốt nghiệp như thế nào?

Dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu phải đáp ứng điều kiện gì để được giao dịch trên sàn dữ liệu?

Dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu phải đáp ứng điều kiện gì để được giao dịch trên sàn dữ liệu?

Dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu phải đáp ứng điều kiện gì để được giao dịch trên sàn dữ liệu?

Nghị định 314/2026/NĐ-CP quy định cụ thể về điều kiện để dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu phải đáp ứng để được giao dịch trên sàn dữ liệu. Nội dung dưới đây nêu chi tiết về vấn đề này.

Tổ chức, cá nhân phải đáp ứng điều kiện gì để tham gia giao dịch trên sàn dữ liệu?

Tổ chức, cá nhân phải đáp ứng điều kiện gì để tham gia giao dịch trên sàn dữ liệu?

Tổ chức, cá nhân phải đáp ứng điều kiện gì để tham gia giao dịch trên sàn dữ liệu?

Nghị định 314/2026/NĐ-CP quy định riêng điều kiện đối với tổ chức, cá nhân muốn tham gia giao dịch trên sàn dữ liệu, đồng thời quy định cách đăng ký tài khoản để thực hiện giao dịch. Dưới đây là thông tin chi tiết.