Hình ảnh, video, giọng nói do AI giả lập người thật phải gắn nhãn thế nào?

Công nghệ AI có thể tạo hình ảnh, video hoặc giọng nói rất giống người thật, khiến người tiếp nhận khó phân biệt nội dung thật với nội dung được tạo hoặc chỉnh sửa bằng AI. Vậy hình ảnh, video, giọng nói do AI giả lập người thật phải gắn nhãn thế nào?

1. Hình ảnh, video, giọng nói do AI giả lập người thật phải gắn nhãn thế nào?

Theo quy định tại khoản 4 Điều 11 Luật Trí tuệ nhân tạo 2025, âm thanh, hình ảnh, video được tạo ra hoặc chỉnh sửa bằng hệ thống trí tuệ nhân tạo nhằm mô phỏng, giả lập ngoại hình, giọng nói của người thật hoặc tái hiện sự kiện thực tế phải được gắn nhãn dễ nhận biết để phân biệt với nội dung thật.

Theo quy định này, việc gắn nhãn dễ nhận biết được áp dụng đối với âm thanh, hình ảnh hoặc video do AI tạo ra hoặc chỉnh sửa trong hai trường hợp:

  • Mô phỏng hoặc giả lập ngoại hình, giọng nói của người thật;
  • Tái hiện sự kiện thực tế để phân biệt với nội dung thật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

Hình ảnh, video, giọng nói do AI giả lập người thật phải gắn nhãn đảm bảo tuân thủ các yêu cầu theo quy định tại khoản 3 Điều 18 Nghị định số 142/2026/NĐ-CP, bao gồm:

  • Rõ ràng, dễ hiểu và dễ nhận biết đối với người tiếp nhận;
  • Được thực hiện trước hoặc tại thời điểm người tiếp nhận tiếp cận nội dung;
  • Không được thiết kế theo cách che giấu hoặc làm giảm khả năng nhận biết bản chất của nội dung;
  • Phù hợp với loại hình nội dung và phương thức cung cấp nội dung;
  • Không gây cản trở đáng kể việc hiển thị, trình diễn hoặc sử dụng nội dung.

Như vậy, pháp luật hiện hành không ấn định một mẫu nhãn duy nhất áp dụng cho mọi loại nội dung do AI tạo ra. Việc gắn nhãn phải phù hợp với loại nội dung và cách nội dung đó được cung cấp đến người xem.

Hình ảnh, video, giọng nói do AI giả lập người thật phải gắn nhãn thế nào?
Hình ảnh, video, giọng nói do AI giả lập người thật phải gắn nhãn thế nào? (Ảnh minh họa)


 

2. Các lưu ý khi thực hiện gắn nhãn hình ảnh, video, giọng nói do AI giả lập người thật

2.1. Hình thức gắn nhãn hình ảnh, video, giọng nói do AI giả lập người thật

Khoản 5 Điều 18 Nghị định 142/2026/NĐ-CP cho phép bên triển khai lựa chọn hình thức thể hiện thông báo và nhãn hiển thị phù hợp với loại hình nội dung cũng như phương thức cung cấp. Theo đó, thông báo hoặc nhãn có thể được thể hiện bằng một trong các hình thức:

  • Hiển thị trực tiếp trên nội dung;
  • Hiển thị tại tiêu đề, phần mô tả hoặc chú thích kèm theo nội dung;
  • Hiển thị trên giao diện của nền tảng cung cấp nội dung;
  • Phát thông báo bằng âm thanh hoặc sử dụng hình thức phù hợp khác. 

Như vậy, bên triển khai việc gắn nhãn đối với hình ảnh, video hoặc giọng nói do AI tạo ra được lựa chọn cách thức thể hiện, miễn là phương thức đó đáp ứng đầy đủ các yêu cầu tại khoản 3 Điều 18 Nghị định 142/2026/NĐ-CP.

Chẳng hạn, tùy phương thức cung cấp nội dung, nhãn có thể nằm trực tiếp trên hình ảnh/video, trong phần mô tả hoặc chú thích, trên giao diện nền tảng hoặc được thông báo bằng âm thanh. Tuy nhiên, dù lựa chọn hình thức nào thì người tiếp nhận vẫn phải có khả năng nhận biết rõ ràng bản chất của nội dung.

2.2. Trường hợp nào không phải gắn nhãn hình ảnh, video, giọng nói do AI giả lập người thật

Khoản 4 Điều 18 Nghị định 142/2026/NĐ-CP quy định một số trường hợp bên triển khai không phải thực hiện nghĩa vụ gắn nhãn hiển thị. Cụ thể gồm:

  • Nội dung được chỉnh sửa kỹ thuật nhằm cải thiện chất lượng âm thanh, hình ảnh hoặc video, nhưng không làm thay đổi bản chất hoặc ngữ cảnh chính của nội dung;
  • Văn bản được xử lý bằng công cụ hỗ trợ sửa lỗi chính tả, ngữ pháp, tóm tắt, diễn giải hoặc dịch thuật mà không làm sai lệch nội dung cơ bản của văn bản gốc;
  • Nội dung chỉ được sử dụng trong phạm vi nội bộ của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và không cung cấp ra công cộng;
  • Nội dung được tạo ra trong quá trình nghiên cứu, phát triển hoặc thử nghiệm trong môi trường kiểm soát và không được cung cấp ra công cộng. Nghị-định-142-2026-NĐ-CP

Quy định này giúp phân biệt việc sử dụng AI để tạo hoặc thay đổi nội dung theo hướng có thể làm người tiếp nhận nhầm lẫn với việc dùng AI như một công cụ hỗ trợ kỹ thuật thông thường.

Ví dụ, nếu AI chỉ được dùng để cải thiện chất lượng của một đoạn âm thanh hoặc hình ảnh mà không làm thay đổi bản chất hay ngữ cảnh chính, trường hợp này thuộc nhóm được Nghị định quy định không phải thực hiện nghĩa vụ gắn nhãn hiển thị.

Tương tự, việc dùng công cụ AI để sửa lỗi chính tả hoặc ngữ pháp cho văn bản không đồng nghĩa với việc văn bản đó phải gắn nhãn hiển thị, nếu việc xử lý không làm sai lệch nội dung cơ bản của bản gốc.

2.3. Tác phẩm điện ảnh, chương trình nghệ thuật dùng AI gắn nhãn thế nào?

Đối với tác phẩm điện ảnh, chương trình nghệ thuật hoặc nội dung sáng tạo, Nghị định 142/2026/NĐ-CP thiết kế cách gắn nhãn linh hoạt hơn để phù hợp với đặc thù của từng loại hình.

Theo khoản 6 Điều 18 Nghị định 142/2026/NĐ-CP, việc thông báo và gắn nhãn hiển thị do bên triển khai trực tiếp đưa nội dung ra công cộng thực hiện.

Thông báo hoặc nhãn có thể được thể hiện tại:

  • Phần mở đầu;
  • Phần kết thúc;
  • Phần danh đề;
  • Phần mô tả;
  • Hoặc tài liệu kèm theo tác phẩm.

Cách thể hiện phải phù hợp với đặc thù từng loại hình, đồng thời bảo đảm người tiếp nhận nhận biết rõ ràng nội dung được tạo ra hoặc chỉnh sửa bằng hệ thống AI và không bị nhầm lẫn về nguồn gốc nội dung. 

Trường hợp AI được sử dụng để tạo hoặc chỉnh sửa nội dung ngay trong quá trình sản xuất, bên thực hiện việc tạo hoặc chỉnh sửa có trách nhiệm cung cấp thông tin cần thiết; bên trực tiếp đưa nội dung ra công cộng sẽ thực hiện nghĩa vụ thông báo, gắn nhãn trên cơ sở thông tin được cung cấp.

Quy định này cho phép việc gắn nhãn đối với phim hoặc tác phẩm nghệ thuật không nhất thiết phải xuất hiện liên tục trong suốt thời gian trình chiếu, nếu cách thức được lựa chọn vẫn đáp ứng yêu cầu nhận biết theo Nghị định.

2.4. Ai có trách nhiệm gắn nhãn nội dung AI giả lập người thật?

Theo quy định tại khoản 4 Điều 11 Luật Trí tuệ nhân tạo 2025, chủ thể có trách nhiệm gắn nhãn nội dung AI giả lập người thật là bên triển khai. 

Trong trường hợp này, căn cứ khoản 5 Điều 3 Luật Trí tuệ nhân tạo 2025 thì bên triển khai có thể được hiểu là tổ chức, cá nhân sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo thuộc phạm vi kiểm soát của mình trong hoạt động nghề nghiệp, thương mại hoặc cung cấp dịch vụ; không bao gồm trường hợp sử dụng cho mục đích cá nhân, phi thương mại.

Trên đây là thông tin về “Hình ảnh, video, giọng nói do AI giả lập người thật phải gắn nhãn thế nào?”. Vui lòng xem chi tiết Luật Trí tuệ nhân tạo 2025 và Nghị định 142/2026/NĐ-CP trên LuatVietnam.vn và các tính năng liên quan như: Tình trạng hiệu lực, Lược đồ...


 

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Những hành vi nào bị nghiêm cấm trong chuyển đổi số theo Luật Chuyển đổi số 2025?

Những hành vi nào bị nghiêm cấm trong chuyển đổi số theo Luật Chuyển đổi số 2025?

Những hành vi nào bị nghiêm cấm trong chuyển đổi số theo Luật Chuyển đổi số 2025?

Chuyển đổi số mở ra nhiều cơ hội trong quản lý nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và cung cấp dịch vụ số. Tuy nhiên, quá trình này cũng đặt ra yêu cầu bảo đảm an toàn hệ thống, bảo vệ dữ liệu và quyền lợi hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Vậy những hành vi nào bị nghiêm cấm trong chuyển đổi số theo Luật Chuyển đổi số 2025?

Cơ quan nào quản lý nhà nước về chuyển đổi số tại Việt Nam?

Cơ quan nào quản lý nhà nước về chuyển đổi số tại Việt Nam?

Cơ quan nào quản lý nhà nước về chuyển đổi số tại Việt Nam?

Theo Luật Chuyển đổi số 2025, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về chuyển đổi số trên phạm vi toàn quốc; Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về chuyển đổi số. Bên cạnh đó, các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý trong phạm vi ngành, lĩnh vực, địa bàn được phân công.

Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm gì trong quản lý nhà nước về chuyển đổi số?

Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm gì trong quản lý nhà nước về chuyển đổi số?

Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm gì trong quản lý nhà nước về chuyển đổi số?

Theo Luật Chuyển đổi số số 148/2025/QH15, Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về chuyển đổi số. Với vai trò này, Bộ thực hiện nhiều nhiệm vụ từ xây dựng chương trình, kiến trúc quốc gia số đến phát triển hạ tầng, nền tảng số và đánh giá hiệu quả chuyển đổi số.

Cơ quan nào quản lý nhà nước về trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam?

Cơ quan nào quản lý nhà nước về trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam?

Cơ quan nào quản lý nhà nước về trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam?

Trí tuệ nhân tạo (AI) hiện đã được xác định là một lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của cơ quan chuyên môn ở cấp trung ương. Vậy cơ quan nào quản lý nhà nước về trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam, cơ quan này có những nhiệm vụ, quyền hạn gì và đơn vị nào trong cơ cấu tổ chức thực hiện chức năng quản lý liên quan đến AI?

Hạ tầng trí tuệ nhân tạo quốc gia do cơ quan nào quản lý?

Hạ tầng trí tuệ nhân tạo quốc gia do cơ quan nào quản lý?

Hạ tầng trí tuệ nhân tạo quốc gia do cơ quan nào quản lý?

Hạ tầng trí tuệ nhân tạo là một trong những nền tảng quan trọng phục vụ nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI. Vậy hạ tầng trí tuệ nhân tạo quốc gia do cơ quan nào quản lý và cơ quan này có những nhiệm vụ gì liên quan đến công nghệ số, trí tuệ nhân tạo theo quy định mới?
 

Hệ thống AI có rủi ro cao phải đáp ứng những yêu cầu gì trước khi đưa vào sử dụng?

Hệ thống AI có rủi ro cao phải đáp ứng những yêu cầu gì trước khi đưa vào sử dụng?

Hệ thống AI có rủi ro cao phải đáp ứng những yêu cầu gì trước khi đưa vào sử dụng?

Hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao phải trải qua các bước phân loại, lập hồ sơ và đánh giá sự phù hợp trước khi được đưa vào sử dụng. Nghị định 142/2026/NĐ-CP quy định khá rõ về trách nhiệm của nhà cung cấp, phương thức đánh giá và việc công khai kết quả đánh giá đối với nhóm hệ thống này

Chính sách của Nhà nước về trí tuệ nhân tạo được quy định như thế nào tại Luật số 134/2025/QH15?

Chính sách của Nhà nước về trí tuệ nhân tạo được quy định như thế nào tại Luật số 134/2025/QH15?

Chính sách của Nhà nước về trí tuệ nhân tạo được quy định như thế nào tại Luật số 134/2025/QH15?

Luật Trí tuệ nhân tạo 2025 số 134/2025/QH15 đã dành riêng một điều để quy định về chính sách của Nhà nước đối với hoạt động trí tuệ nhân tạo, từ phát triển công nghệ, đầu tư hạ tầng đến bảo đảm quyền tiếp cận AI và hợp tác quốc tế. Vậy chính sách của Nhà nước về trí tuệ nhân tạo được quy định như thế nào tại Luật số 134/2025/QH15?