- 1. Bổ sung các quy định liên quan đến văn bằng, chứng chỉ
- 1.1 Chính thức bỏ bằng THCS
- 1.2 Giao hiệu trưởng cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông
- 1.3 Bổ sung bằng trung học nghề
- 1.4 Bổ sung hình thức văn bằng số, chứng chỉ số
- 2. Bổ sung quy định về văn bằng, chứng chỉ số
- 3. Rút ngắn thời hạn cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông
- 4. Bãi bỏ quy định về việc Bộ Giáo dục và Đào tạo in phôi văn bằng, chứng chỉ
- 5. Bổ sung quy định giao cấp phó ký văn bằng, chứng chỉ

1. Bổ sung các quy định liên quan đến văn bằng, chứng chỉ
Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT quy định chi tiết các nội dung mới về quản lý văn bằng, chứng chỉ được đề cập trong Luật Giáo sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) và Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi).1.1 Chính thức bỏ bằng THCS
Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 2 Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT bằng THCS không còn được liệt kê trong hệ thống văn bằng giáo dục quốc dân. Có nghĩa từ thời điểm này, chính thức bỏ bằng THCS, quy định được kế thừa từ Luật giáo dục sửa đổi 2025 có hiệu lực trước đó.1.2 Giao hiệu trưởng cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông
Theo khoản 1 Điều 4 Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT quy định:
Đối chiếu quy định tại khoản 9 Điều 1 Luật Giáo dục sửa đổi 2025, sửa đổi Điều 34 Luật giáo dục 2019 học sinh học hết chương trình THCS nếu đủ điều kiện sẽ được hiệu trưởng nhà trường xác nhận vào học bạ. Học sinh học hết chương trình THPT, đủ điều kiện thì được hiệu trưởng nhà trường cấp bằng tốt nghiệp.1. Thẩm quyền cấp văn bằng thực hiện theo quy định của Luật số 43/2019/QH14 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 123/2025/QH15, Luật số 124/2025/QH15, Luật số 125/2025/QH15
1.3 Bổ sung bằng trung học nghề
Khoản 1 Điều 1 Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT bổ sung bằng trung học nghề là văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân1.4 Bổ sung hình thức văn bằng số, chứng chỉ số
Khoản 3 Điều 2 Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT, văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân có thể tồn tại dưới hai hình thức: văn bằng, chứng chỉ giấy và văn bằng, chứng chỉ số2. Bổ sung quy định về văn bằng, chứng chỉ số
Theo khoản 3 Điều 2 Quy chế ban hành kèm theo Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT, văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân có thể tồn tại dưới hai hình thức:
- Văn bằng, chứng chỉ giấy: được cấp dưới dạng văn bản giấy.
- Văn bằng, chứng chỉ số: được cấp dưới dạng kỹ thuật số từ cơ sở dữ liệu về văn bằng, chứng chỉ của Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc của cơ quan cấp văn bằng, chứng chỉ nếu được phân cấp.
Cũng theo quy định này, văn bằng, chứng chỉ giấy và văn bằng, chứng chỉ số có giá trị pháp lý như nhau.
Theo khoản 3 Điều 21 Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT quy định việc cập nhật, công khai thông tin được áp dụng cả với văn bằng, chứng chỉ đã cấp trước khi Thông tư có hiệu lực. Thông tin trích xuất từ cơ sở dữ liệu có giá trị pháp lý như thông tin trong sổ gốc; thông tin tra cứu từ cơ sở dữ liệu hoặc trên ứng dụng VNeID được sử dụng thay cho bản sao từ sổ gốc và có giá trị xác minh văn bằng, chứng chỉ.
3. Rút ngắn thời hạn cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông
Khoản 1 Điều 11 Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT đã rút ngắn thời hạn cấp bằng tốt nghiệp từ 75 ngày xuống còn 30 ngày, thời hạn cấp đồng bộ với văn bằng, chứng chỉ giấy số là 5 ngày kể từ ngày có quyết định công nhận tốt nghiệp.Ngoài ra, các thủ tục liên quan được quy định theo hướng cắt giảm giấy tờ, tăng khai thác và chia sẻ dữ liệu từ các cơ sở dữ liệu liên quan; ưu tiên giải quyết trên môi trường điện tử; không yêu cầu người dân cung cấp lại thông tin đã có trên các hệ thống dữ liệu của cơ quan nhà nước.
4. Bãi bỏ quy định về việc Bộ Giáo dục và Đào tạo in phôi văn bằng, chứng chỉ
Tại Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT đã bỏ quy định in phôi văn bằng, chứng chỉ tại chương II Thông tư 21/2019/TT-BGDĐT.Cụ thể, Quy chế phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân liên quan. Trong đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo tập trung ban hành quy định, thực hiện quản lý nhà nước theo pháp luật, không làm thay địa phương, cơ sở; bỏ quy định Bộ Giáo dục và Đào tạo in phôi đồng bộ với văn bằng, chứng chỉ giấy; phân cấp cho Sở Giáo dục và Đào tạo hoặc cơ quan có thẩm quyền cấp đồng bộ với văn bằng, chứng chỉ giấy; không quy định mẫu văn bằng đại học, giáo dục nghề nghiệp và mẫu chứng chỉ (chỉ quy định nội dung chính ghi trên văn bằng, chứng chỉ), trừ mẫu bằng tốt nghiệp trung học phổ thông để bảo đảm thống nhất toàn quốc; không quy định mẫu sổ gốc, phụ lục sổ gốc, sổ cấp bản sao…
5. Bổ sung quy định giao cấp phó ký văn bằng, chứng chỉ
Tại khoản 9 Điều 7 Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT bổ sung quy định giao cấp phó ký văn bằng, chứng chỉ; giao quyền ký bản sao văn bằng, chứng chỉ để giảm tải cho người đứng đầu; quy định các trường hợp đặc biệt khi cấp bản sao từ sổ gốc, cấp lại, chỉnh sửa nội dung, thu hồi, hủy bỏ văn bằng, chứng chỉ trong các tình huống như không còn sổ gốc, không còn người có thẩm quyền, hoặc khi cơ quan có thẩm quyền sáp nhập, chia tách, giải thể.Ngoài ra, tại khoản 6 Điều 22 Thông tư giao Sở Giáo dục và Đào tạo xử lý; Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm bàn giao sổ gốc cấp bằng và tài liệu liên quan về Sở Giáo dục và Đào tạo trước ngày 31/5/2026.
Trên đây là nội dung bài viết "5 điểm mới tại Thông tư 10/2026/TT-BGDĐT về quy chế văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân"
RSS