Chủ doanh nghiệp tư nhân có được góp vốn vào doanh nghiệp khác?

Doanh nghiệp tư nhân là mô hình công ty do một cá nhân làm chủ sở hữu và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Vậy, chủ doanh nghiệp tư nhân có được góp vốn vào doanh nghiệp khác hay không?
 

Doanh nghiệp tư nhân có được góp vốn thành lập doanh nghiệp khác?

Là loại hình mà chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp bằng toàn bộ tài sản của mình, chính vì vậy, doanh nghiệp tư nhân không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần (khoản 4 Điều 183 Luật Doanh nghiệp 2014).

Có thể hiểu, pháp luật quy định như trên là do trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp tư nhân phải tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp; vì vậy, đây là mô hình doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân riêng biệt để tham gia vào các doanh nghiệp có sự tách bạch về tài sản cá nhân và tài sản công ty như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần hay công ty hợp danh.

Chủ doanh nghiệp tư nhân có được góp vốn vào doanh nghiệp khác?

Chủ doanh nghiệp tư nhân có được góp vốn vào doanh nghiệp khác? (Ảnh minh họa)

Chủ doanh nghiệp tư nhân có được góp vốn vào doanh nghiệp khác?

Điều 183 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Ngoài ra, chủ doanh nghiệp tư nhân cũng không được đồng thời làm chủ hộ kinh doanh hay thành viên công ty hợp danh.

Sở dĩ quyền góp vốn của chủ doanh nghiệp tư nhân đươc quy định như trên là bởi chủ doanh nghiệp tư nhân thì phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng tất cả tài sản của mình về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi của khách hàng và đối tác, kể cả chủ nợ của các doanh nghiệp nên pháp luật quy định mỗi cá nhân chỉ được thành lập một doanh nghiệp tư nhân.

Đối với việc thành lập, góp vốn, mua cổ phần, phần góp vốn trong công ty hợp danh, công ty trách nhiêm hữu hạn hoặc công ty cổ phần: như trên đã đề cập, pháp luật chỉ hạn chế các quyền này đối với doanh nghiệp tư nhân mà chưa có quy định hạn chế đối với chủ doanh nghiệp tư nhân.

Do vậy, chủ doanh nghiệp tư nhân hoàn toàn có thể góp vốn, thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần.

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Luật An ninh mạng có hiệu lực từ 01/7/2026 tác động gì đến doanh nghiệp?

Luật An ninh mạng có hiệu lực từ 01/7/2026 tác động gì đến doanh nghiệp?

Luật An ninh mạng có hiệu lực từ 01/7/2026 tác động gì đến doanh nghiệp?

Quốc hội thông qua Luật An ninh mạng 2025 vào ngày 10/12/2025 với nhiều nội dung đáng chú ý tác động mạnh mẽ đến doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp công nghệ phát triển. Cùng theo dõi chi tiết Luật An ninh mạng 2025 tác động gì đến doanh nghiệp từ 01/7/2026?

Bảng so sánh Nghị định 110/2026/NĐ-CP và Nghị định 08/2022/NĐ-CP về trách nhiệm tái chế và xử lý chất thải

Bảng so sánh Nghị định 110/2026/NĐ-CP và Nghị định 08/2022/NĐ-CP về trách nhiệm tái chế và xử lý chất thải

Bảng so sánh Nghị định 110/2026/NĐ-CP và Nghị định 08/2022/NĐ-CP về trách nhiệm tái chế và xử lý chất thải

LuatVietnam thực hiện bảng so sánh chi tiết giữa Nghị định 110/2026/NĐ-CP và Nghị định 08/2022/NĐ-CP giúp nhanh chóng nhận diện các điểm mới về trách nhiệm tái chế, xử lý chất thải, tỷ lệ tái chế bắt buộc, thủ tục báo cáo EPR và các quy định liên quan theo dạng đối chiếu dễ hiểu, dễ tra cứu.