
Theo Điều 84 Nghị định 109/2026/NĐ-CP, Chủ tịch UBND các cấp được quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính như sau:
- Chủ tịch UBND cấp xã có quyền:
- Phạt cảnh cáo;
- Phạt tiền đến 15 triệu đồng đối với vi phạm trong lĩnh vực hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình; đến 25 triệu đồng đối với vi phạm trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp;
- Đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, giấy đăng ký hành nghề, thẻ tư vấn viên pháp luật, thẻ công chứng viên, thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý;
- Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;
- Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo khoản 3 Điều 3 Nghị định 109/2026/NĐ-CP.
- Chủ tịch UBND cấp tỉnh có quyền:
- Phạt cảnh cáo;
- Phạt tiền đến 30 triệu đồng đối với vi phạm trong lĩnh vực hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình; đến 40 triệu đồng đối với vi phạm trong lĩnh vực phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã; đến 50 triệu đồng đối với vi phạm trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp;
- Đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, giấy đăng ký hành nghề, thẻ tư vấn viên pháp luật, thẻ công chứng viên, thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý;
- Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;
- Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.
Như vậy, từ ngày 18/5/2026, cả Chủ tịch UBND cấp xã và Chủ tịch UBND cấp tỉnh đều có thẩm quyền đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề trong một số lĩnh vực bổ trợ tư pháp, trong đó có chứng chỉ hành nghề luật sư.
RSS