Cụ thể, Điều 26 Nghị định 151/2026/NĐ-CP quy định Thừa hành viên được lập vi bằng theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân để ghi nhận các sự kiện, hành vi có thật trên phạm vi toàn quốc, trừ các trường hợp không được lập vi bằng theo Điều 28 của Nghị định.
Theo Điều 27, vi bằng là nguồn chứng cứ để Tòa án nhân dân và các cơ quan có thẩm quyền xem xét khi giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật; đồng thời là một trong những căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác. Tuy nhiên, vi bằng không thay thế văn bản công chứng, chứng thực hoặc các văn bản hành chính khác.

Điều 28 Nghị định đã quy định rõ nhiều trường hợp không được lập vi bằng. Trong đó có các trường hợp như: xác nhận nội dung, việc ký tên trong hợp đồng, giao dịch thuộc phạm vi công chứng, chứng thực; ghi nhận sự kiện, hành vi để chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản không có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng; ghi nhận các giao dịch trái pháp luật; vi phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình hoặc liên quan đến bí mật nhà nước, quốc phòng, an ninh.
Về thủ tục lập vi bằng, Điều 30 quy định Thừa hành viên phải trực tiếp chứng kiến, trực tiếp lập vi bằng và chịu trách nhiệm trước người yêu cầu cũng như trước pháp luật về vi bằng do mình lập. Vi bằng có thể được lập dưới hình thức văn bản giấy hoặc văn bản điện tử trên môi trường số.
Ngoài ra, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc việc lập vi bằng, văn phòng thi hành án dân sự phải cập nhật vi bằng vào cơ sở dữ liệu về tổ chức và hoạt động của Thừa hành viên.
RSS