Theo điểm a khoản 2 mục II Điều 1 Quyết định 1493/QĐ-TTg, trong giai đoạn 2026 - 2030, một trong những mục tiêu cụ thể của Chương trình là làm chủ tối thiểu 04 công nghệ chiến lược thuộc Danh mục công nghệ chiến lược do Thủ tướng Chính phủ ban hành.

Cùng với mục tiêu làm chủ công nghệ, Chương trình đặt mục tiêu phát triển và thương mại hóa tối thiểu 15 sản phẩm công nghệ chiến lược thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược do Thủ tướng Chính phủ ban hành. Trong số này, phải có tối thiểu 05 sản phẩm được thương mại hóa tại thị trường khu vực hoặc quốc tế, qua đó góp phần nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Sản phẩm công nghệ chiến lược được thương mại hóa trong giai đoạn này đặt mục tiêu đạt tỷ lệ nội địa hóa khoảng 40%.
Bước sang giai đoạn 2031 - 2035, theo điểm b khoản 2 mục II Điều 1, mục tiêu được nâng lên thành làm chủ 06 công nghệ chiến lược. Đồng thời, Việt Nam đặt mục tiêu phát triển và thương mại hóa tối thiểu 25 sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó có ít nhất 15 sản phẩm được thương mại hóa tại thị trường khu vực hoặc quốc tế. Tỷ lệ nội địa hóa của sản phẩm công nghệ chiến lược được thương mại hóa trong giai đoạn này phải đạt tối thiểu 40%.
Để thực hiện các mục tiêu trên, khoản 1 mục III Điều 1 Quyết định 1493/QĐ-TTg yêu cầu tổ chức xây dựng, thẩm định, phê duyệt và thực hiện các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược nhằm giải quyết các bài toán lớn của quốc gia; nghiên cứu, phát triển, làm chủ công nghệ chiến lược, công nghệ lõi và công nghệ nền tảng. Chương trình đồng thời hướng tới hình thành năng lực thiết kế, chế tạo, tích hợp, thử nghiệm, sản xuất và phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược.
Theo mục tiêu tổng quát tại khoản 1 mục II Điều 1, việc làm chủ và phát triển công nghệ không dừng lại ở nghiên cứu mà hướng tới hoàn thiện, thương mại hóa sản phẩm có năng lực cạnh tranh cao, từng bước tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, qua đó nâng cao năng lực tự chủ và năng lực cạnh tranh công nghệ quốc gia.
RSS