​Đảng viên giao dịch trái phép tài sản mã hóa, tài sản số có thể bị khai trừ

Từ ngày 17/8/2026, hành vi liên quan đến việc chiếm đoạt, mua bán hoặc trao đổi trái phép tài sản mã hóa, tài sản số của người khác chính thức được xác định là một trong những trường hợp đảng viên có thể bị khai trừ theo Quy định 212-QĐ/TW của Bộ Chính trị.

Đây là nội dung mới so với Quy định 69-QĐ/TW. Trước đây, Điều 41 Quy định 69-QĐ/TW quy định về vi phạm trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng nhưng chưa đề cập cụ thể đến tài sản mã hóa và tài sản số. Quy định 264-QĐ/TW chỉ sửa đổi, bổ sung một số nội dung liên quan đến phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và không bổ sung hành vi về tài sản mã hóa, tài sản số.

Theo điểm g khoản 3 Điều 42 Quy định 212-QĐ/TW, Đảng viên thực hiện trên không gian mạng hành vi làm giả, lưu hành, trộm cắp, mua bán, thu thập hoặc trao đổi trái phép thông tin thẻ tín dụng, tài khoản ngân hàng, tài sản mã hóa, tài sản số của người khác thì bị kỷ luật bằng hình thức khai trừ.

​Đảng viên giao dịch trái phép tài sản mã hóa, tài sản số có thể bị khai trừai-phep-tai-san-ma-hoa-tai-san-so-co-the-bi-khai-tru
​Đảng viên giao dịch trái phép tài sản mã hóa, tài sản số có thể bị khai trừ (Ảnh minh họa)

Cùng với đó, khoản 3 Điều 42 còn quy định khai trừ đối với Đảng viên phát hành, cung cấp hoặc sử dụng trái phép các phương tiện thanh toán; giả mạo giấy tờ của cơ quan, tổ chức. Đảng viên cho mượn, cho thuê, mở hộ tài khoản ngân hàng, thông tin thẻ ngân hàng hoặc các loại ví điện tử để người khác sử dụng vào mục đích bất hợp pháp cũng thuộc trường hợp bị khai trừ.

Một hành vi mới khác được quy định tại điểm i khoản 3 Điều 42 là trực tiếp tham gia hoặc vận động, lôi kéo người khác tham gia hoạt động kinh doanh đa cấp chưa được cấp phép hoặc các sàn giao dịch tài chính, tiền ảo trái quy định của pháp luật. Hình thức kỷ luật được áp dụng đối với các hành vi này là khai trừ.

Có thể thấy, Quy định 212-QĐ/TW đã mở rộng phạm vi kỷ luật trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng sang những hoạt động phát sinh trên không gian mạng, bao gồm tài sản mã hóa, tài sản số, ví điện tử và sàn giao dịch tiền ảo. Các hành vi được quy định tại khoản 3 Điều 42 thuộc nhóm bị khai trừ mà không phụ thuộc vào điều kiện đã bị kỷ luật trước đó hoặc phải gây hậu quả rất nghiêm trọng.

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
(1 đánh giá)
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Hai Thông tư về tái cơ cấu doanh nghiệp, xử lý nợ tiếp tục có hiệu lực từ ngày 30/10/2026

Hai Thông tư về tái cơ cấu doanh nghiệp, xử lý nợ tiếp tục có hiệu lực từ ngày 30/10/2026

Hai Thông tư về tái cơ cấu doanh nghiệp, xử lý nợ tiếp tục có hiệu lực từ ngày 30/10/2026

Ngày 15/10/2026, Bộ Tài chính ban hành Quyết định 2965/QĐ-BTC công bố 04 thông tư của Bộ trưởng Bộ Tài chính tiếp tục có hiệu lực. Trong đó, hai thông tư hướng dẫn tái cơ cấu doanh nghiệp và bàn giao, tiếp nhận, xử lý nợ, tài sản.

Công văn 2471 BTCTW: Hồ sơ vị trí việc làm phải có bản mô tả công việc và khung năng lực của từng vị trí

Công văn 2471 BTCTW: Hồ sơ vị trí việc làm phải có bản mô tả công việc và khung năng lực của từng vị trí

Công văn 2471 BTCTW: Hồ sơ vị trí việc làm phải có bản mô tả công việc và khung năng lực của từng vị trí

Công văn 2471-CV/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương về việc đề nghị cung cấp hồ sơ, tài liệu về chức năng, nhiệm vụ, vị trí việc làm được ban hành ngày 15/10/2026.

Người nghỉ hưu trốn tránh bồi thường thiệt hại do gây lãng phí bị trừ dần vào lương hưu 

Người nghỉ hưu trốn tránh bồi thường thiệt hại do gây lãng phí bị trừ dần vào lương hưu 

Người nghỉ hưu trốn tránh bồi thường thiệt hại do gây lãng phí bị trừ dần vào lương hưu 

Theo Nghị định 267/2026/NĐ-CP, người đã nghỉ hưu nhưng chưa hoàn thành nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do gây lãng phí và cố tình trì hoãn, trốn tránh việc bồi thường có thể bị trừ 20% lương hưu hằng tháng để thực hiện nghĩa vụ này.

Hàng kinh doanh tạm nhập, tái xuất chỉ được lưu lại Việt Nam không quá 60 ngày kể từ ngày hoàn thành thủ tục hải quan tạm nhập

Hàng kinh doanh tạm nhập, tái xuất chỉ được lưu lại Việt Nam không quá 60 ngày kể từ ngày hoàn thành thủ tục hải quan tạm nhập

Hàng kinh doanh tạm nhập, tái xuất chỉ được lưu lại Việt Nam không quá 60 ngày kể từ ngày hoàn thành thủ tục hải quan tạm nhập

Ngày 22/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 292/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý ngoại thương, có hiệu lực từ ngày 05/9/2026.