Theo Điều 2, Luật Dầu khí 2026, số 10/2026/QH16 (hiệu lực từ 01/3/2027) áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài có liên quan đến các hoạt động này.
Theo khoản 1 Điều 3, dầu khí bao gồm dầu thô, khí thiên nhiên, hydrocarbon ở thể rắn hoặc nửa rắn trong trạng thái tự nhiên và dầu khí phi truyền thống. Dầu khí phi truyền thống gồm khí hydrogen tự nhiên, khí than, dầu đá phiến hoặc dầu sét, khí đá phiến hoặc khí sét, băng cháy, bitum và các dạng khác có thể tồn tại. Hoạt động dầu khí bao gồm tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ, khai thác và thu dọn công trình dầu khí.

Điều 4 quy định nguyên tắc áp dụng pháp luật đối với lĩnh vực dầu khí. Trường hợp Luật Dầu khí và luật khác có quy định khác nhau về cùng một vấn đề cụ thể thì áp dụng Luật Dầu khí đối với những nội dung như thẩm quyền, trình tự, thủ tục đầu tư dự án dầu khí; lựa chọn nhà thầu ký hợp đồng dầu khí; nguyên tắc xử lý chi phí; quản lý tài sản của hợp đồng đã kết thúc và cơ chế khai thác tận thu dầu khí.
Khi pháp luật Việt Nam chưa có quy định, các bên có thể thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài hoặc thông lệ công nghiệp dầu khí quốc tế, nếu hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.
Về chính sách đầu tư, Điều 5 khuyến khích tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư tại các khu vực tiềm năng, vùng nước sâu, xa bờ; tìm kiếm, phát triển và khai thác dầu khí phi truyền thống, mỏ cận biên hoặc khu vực có địa chất phức tạp. Nhà nước không thu tiền sử dụng khu vực biển phục vụ điều tra, hoạt động dầu khí, vận chuyển tài nguyên dầu khí bằng đường ống về bờ và các công trình thu giữ, vận chuyển, lưu trữ CO₂.
Theo Điều 6, tài nguyên dầu khí thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Hoạt động dầu khí phải bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, sử dụng công nghệ hiện đại, thực hiện chuyển đổi số và mua các loại bảo hiểm theo quy định.
Luật cũng quy định cụ thể về an toàn dầu khí. Điều 8 xác định vùng cấm xâm nhập quanh công trình dầu khí trên biển có bán kính 500 mét; vùng cấm thả neo hoặc tiến hành hoạt động ngầm dưới đáy biển trong phạm vi 02 hải lý, trừ trường hợp được cho phép.
Về lựa chọn nhà thầu, Điều 14 quy định ba hình thức gồm đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế và chỉ định thầu. Nhà thầu phải có năng lực tài chính, kỹ thuật và kinh nghiệm theo Điều 15; việc đánh giá được thực hiện dựa trên năng lực, điều kiện kỹ thuật và điều kiện kinh tế theo Điều 16. Sau khi hoàn thành lựa chọn và đàm phán, hợp đồng dầu khí được thẩm định, phê duyệt, ký kết và cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo Điều 18.
RSS