- 1. Áp dụng Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân mới với 9 cấp độ chương trình giáo dục
- 2. Áp dụng Khung trình độ quốc gia Việt Nam mới
- 3. Nhà giáo đã nghỉ hưu có thể tiếp tục giảng dạy theo hợp đồng, thỉnh giảng
- 4. Quy định mới về biên soạn tài liệu giáo dục mầm non
- 5. Tăng quyền khai thác tài nguyên giáo dục mở trong giáo dục đại học
- 6. Đổi mới quy trình xây dựng chương trình giáo dục đại học
- 7. Quy định mới về công nhận văn bằng nước ngoài tại Việt Nam
1. Áp dụng Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân mới với 9 cấp độ chương trình giáo dục
Theo khoản 1 Điều 5 Quyết định 38/2026/QĐ-TTg, các chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân được phân thành 9 cấp độ từ cấp độ 0 đến cấp độ 8 trên cơ sở các tiêu chí gồm: mục tiêu chương trình, mức độ phức tạp của nội dung học tập, yêu cầu đầu vào, kết quả học tập dự kiến và khả năng chuyển tiếp trong hệ thống giáo dục quốc dân. Cụ thể:
-
Cấp độ 0: Chương trình giáo dục mầm non.
-
Cấp độ 1: Chương trình giáo dục tiểu học và chương trình xóa mù chữ dành cho người chưa hoàn thành chương trình giáo dục tiểu học.
-
Cấp độ 2: Chương trình giáo dục trung học cơ sở và các chương trình giáo dục tương đương.
-
Cấp độ 3: Chương trình giáo dục trung học phổ thông, chương trình giáo dục tương đương và chương trình đào tạo trình độ sơ cấp.
-
Cấp độ 4: Chương trình đào tạo trình độ trung cấp.
-
Cấp độ 5: Chương trình đào tạo trình độ cao đẳng.
-
Cấp độ 6: Chương trình đào tạo trình độ đại học.
-
Cấp độ 7: Chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ.
-
Cấp độ 8: Chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ.
Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 5 Quyết định 38/2026/QĐ-TTg quy định chương trình giáo dục tích hợp nhiều cấp học, trình độ đào tạo được xếp vào cấp độ tương ứng với cấp học và trình độ đào tạo cao nhất. Mỗi chương trình giáo dục được xác định bằng mã chương trình và phân loại theo quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Quyết định này.
Việc áp dụng Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân với 9 cấp độ chương trình giáo dục nhằm xác lập cấu trúc thống nhất của hệ thống giáo dục, làm căn cứ xây dựng, rà soát, điều chỉnh chương trình giáo dục; bảo đảm sự liên thông, công nhận và chuyển tiếp kết quả học tập giữa các cấp học, trình độ đào tạo.

2. Áp dụng Khung trình độ quốc gia Việt Nam mới
Theo Điều 4 Quyết định 39/2026/QĐ-TTg, Khung trình độ quốc gia Việt Nam gồm 8 bậc trình độ từ bậc 1 đến bậc 8, được sắp xếp theo mức độ tăng dần về độ phức tạp của kiến thức, kỹ năng và mức độ tự chủ, trách nhiệm cá nhân của người học.
Mỗi bậc trình độ trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam được mô tả theo 03 thành phần gồm:
-
Kiến thức;
-
Kỹ năng;
-
Mức độ tự chủ và trách nhiệm cá nhân.
Các bậc trình độ trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam gồm:
-
Bậc 1: Thể hiện năng lực thực hiện các nhiệm vụ, công việc đơn giản, lặp lại theo quy trình hoặc hướng dẫn, dưới sự giám sát trực tiếp.
-
Bậc 2: Thể hiện năng lực thực hiện, giải quyết một hoặc một số công việc cơ bản và được dự báo trước của một nghề dưới sự giám sát chung.
-
Bậc 3: Thể hiện năng lực thực hiện thành thạo các công việc của ngành, nghề trong điều kiện làm việc tương đối ổn định và môi trường quen thuộc.
-
Bậc 4: Thể hiện năng lực thực hiện và giải quyết các công việc của ngành, nghề trong điều kiện có thay đổi.
-
Bậc 5: Thể hiện năng lực thực hiện, giải quyết các công việc phức tạp, khó được dự báo trước của ngành, nghề.
-
Bậc 6: Thể hiện năng lực vận dụng kiến thức toàn diện và tư duy phản biện để phân tích, tổng hợp, giải quyết các vấn đề phức tạp trong bối cảnh nghề nghiệp đa dạng.
-
Bậc 7: Thể hiện năng lực làm chủ kiến thức nâng cao; có khả năng nghiên cứu, phát triển và vận dụng tri thức chuyên sâu.
-
Bậc 8: Thể hiện năng lực sáng tạo tri thức mới, phát triển học thuyết hoặc phương pháp mới hoặc giải quyết các vấn đề thực tiễn của lĩnh vực chuyên môn hoặc của xã hội.
Quyết định 39/2026/QĐ-TTg xác định các bậc trình độ trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam trên cơ sở kết quả học tập đạt được, được mô tả thông qua kiến thức, kỹ năng, mức độ tự chủ và trách nhiệm cá nhân của người học.
Khung trình độ quốc gia Việt Nam mới là căn cứ để cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp xây dựng, điều chỉnh chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra; đồng thời hỗ trợ việc liên thông giữa các trình độ, công nhận và đối sánh văn bằng, chứng chỉ trong nước và quốc tế.
3. Nhà giáo đã nghỉ hưu có thể tiếp tục giảng dạy theo hợp đồng, thỉnh giảng
Theo khoản 1 Điều 2 Thông tư 59/2026/TT-BGDĐT, hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu là sự thỏa thuận lao động giữa cơ sở giáo dục và nhà giáo sau khi nghỉ hưu, được xác lập dưới hình thức hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật.
Việc ký hợp đồng phải bảo đảm các nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, công khai, minh bạch; phù hợp với nhu cầu phát triển đội ngũ của cơ sở giáo dục và không làm ảnh hưởng đến kế hoạch tuyển dụng, đào tạo đội ngũ kế cận theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Thông tư 59/2026/TT-BGDĐT.
Để được ký hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu, nhà giáo phải đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 4 Thông tư 59/2026/TT-BGDĐT, gồm:
-
Có phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp tốt; không trong thời hạn bị xử lý kỷ luật, không trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang chấp hành hình phạt khác;
-
Đáp ứng tiêu chuẩn sức khỏe để làm việc;
-
Đáp ứng tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, năng lực nghề nghiệp theo yêu cầu của vị trí việc làm, có khả năng ứng dụng công nghệ số vào giảng dạy
-
Đáp ứng các điều kiện khác theo yêu cầu của cơ sở giáo dục.
Bên cạnh hình thức hợp đồng toàn thời gian, nhà giáo đã nghỉ hưu có thể tiếp tục giảng dạy theo hình thức thỉnh giảng. Theo khoản 2 Điều 2 Thông tư 59/2026/TT-BGDĐT, thỉnh giảng là hoạt động của người được cơ sở giáo dục mời đến thực hiện nhiệm vụ giảng dạy ít nhất một môn học, mô-đun, học phần, chuyên đề hoặc nội dung trong chương trình giáo dục, chương trình đào tạo và các hoạt động chuyên môn khác có liên quan trực tiếp đến quá trình giáo dục, đào tạo.
Việc xác định loại hợp đồng thỉnh giảng được căn cứ vào tính chất công việc, mức độ quản lý, điều hành của cơ sở giáo dục, thời gian làm việc và mức độ phụ thuộc của nhà giáo thỉnh giảng. Nhà giáo thỉnh giảng có thể thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, hướng dẫn học tập, tham gia các hoạt động chuyên môn khác theo quy định của Thông tư và quy định có liên quan.
Như vậy, từ ngày 01/9/2026, quy định mới tạo cơ sở pháp lý để nhà giáo đã nghỉ hưu tiếp tục giảng dạy theo hợp đồng, thỉnh giảng, qua đó phát huy kinh nghiệm chuyên môn, năng lực giảng dạy và đóng góp của đội ngũ nhà giáo có nhiều năm công tác trong lĩnh vực giáo dục.
4. Quy định mới về biên soạn tài liệu giáo dục mầm non
Theo khoản 1 Điều 3 Thông tư 60/2026/TT-BGDĐT, tài liệu hướng dẫn thực hiện Chương trình giáo dục mầm non là tài liệu do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn hoặc giao nhiệm vụ biên soạn nhằm hướng dẫn cơ quan quản lý giáo dục, cơ sở giáo dục mầm non, cán bộ quản lý, giáo viên và nhân sự hỗ trợ giáo dục thực hiện Chương trình giáo dục mầm non.
Theo Điều 4 Thông tư 60/2026/TT-BGDĐT, tài liệu hướng dẫn thực hiện Chương trình giáo dục mầm non phải bảo đảm tính khoa học, sư phạm, thẩm mỹ; phù hợp với quyền trẻ em, bình đẳng giới, giáo dục hòa nhập, văn hóa, lịch sử, địa lý Việt Nam và yêu cầu hội nhập quốc tế; đồng thời bám sát mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ em. Nội dung, số liệu, hình ảnh, tư liệu trong tài liệu phải chính xác, khách quan, có nguồn gốc rõ ràng và tuân thủ quy định về sở hữu trí tuệ.
Về tổ chức biên soạn, khoản 1 Điều 5 Thông tư 60/2026/TT-BGDĐT quy định Ban biên soạn do người đứng đầu đơn vị được giao chủ trì biên soạn tham mưu Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định thành lập, gồm chủ biên, thư ký và các thành viên là cán bộ quản lý giáo dục, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non, giáo viên mầm non, chuyên gia, nhà khoa học có chuyên môn phù hợp. Thành viên Ban biên soạn phải có trình độ đại học trở lên, có thời gian công tác tối thiểu 05 năm trong lĩnh vực phù hợp và đáp ứng các tiêu chuẩn tại khoản 2 Điều 5.
Theo Điều 6 Thông tư 60/2026/TT-BGDĐT, Ban biên soạn có trách nhiệm tổ chức biên soạn tài liệu, tiếp thu ý kiến góp ý, hoàn thiện bản mẫu để thẩm định; tiếp thu, giải trình ý kiến của Hội đồng thẩm định để hoàn thiện dự thảo. Đơn vị chủ trì biên soạn đồng thời phải tổ chức lấy ý kiến chuyên gia, nhà khoa học và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
5. Tăng quyền khai thác tài nguyên giáo dục mở trong giáo dục đại học
Theo khoản 2 Điều 3 Thông tư 61/2026/TT-BGDĐT, tài nguyên giáo dục mở là học liệu phục vụ hoạt động giảng dạy, học tập và nghiên cứu dưới nhiều định dạng khác nhau như giáo trình, bài giảng, tài liệu tham khảo, khóa học trực tuyến, học liệu đa phương tiện, dữ liệu học tập và các tài nguyên giáo dục khác.
Các tài nguyên này có thể thuộc phạm vi công cộng hoặc thuộc quyền tác giả nhưng được phát hành theo giấy phép mở, cho phép người sử dụng truy cập để giữ lại, sử dụng lại, sửa đổi, kết hợp lại và phân phối lại theo quy định của giấy phép mở.
Đáng chú ý, khoản 1 Điều 8 Thông tư 61/2026/TT-BGDĐT quy định tổ chức, cá nhân có quyền truy cập, khai thác và sử dụng tài nguyên giáo dục mở theo điều kiện của giấy phép mở được gắn kèm; đồng thời được sao chép, chia sẻ, sử dụng lại, chỉnh sửa, kết hợp tài nguyên trong phạm vi được phép. Các tài nguyên này có thể được sử dụng để phục vụ giảng dạy, học tập, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và các mục đích hợp pháp khác.
Bên cạnh đó, quyền truy cập mở còn cho phép người sử dụng đọc, tải về, sao chép, in, liên kết và chia sẻ nội dung mà không cần trả chi phí hoặc xin phép, với điều kiện tuân thủ pháp luật và các yêu cầu trong giấy phép mở theo khoản 4 Điều 3 Thông tư này.
Đối với cơ sở đào tạo, khoản 2 Điều 9 Thông tư 61/2026/TT-BGDĐT cho phép sử dụng tài nguyên giáo dục mở làm học liệu chính thức, học liệu tham khảo hoặc học liệu bổ trợ trong chương trình đào tạo cấp văn bằng ở các trình độ của giáo dục đại học; sử dụng cho khóa học, khóa học trực tuyến, cấp chứng chỉ, hoạt động nghiên cứu và công bố học thuật.
Việc mở rộng quyền khai thác tài nguyên giáo dục mở góp phần thúc đẩy chia sẻ tri thức, phát triển học liệu số, nâng cao hiệu quả đào tạo và hỗ trợ chuyển đổi số trong giáo dục đại học.
6. Đổi mới quy trình xây dựng chương trình giáo dục đại học
Theo Điều 4 Thông tư 62/2026/TT-BGDĐT, chương trình phải bảo đảm có mục tiêu, chuẩn đầu ra, khối lượng học tập, nội dung kiến thức cốt lõi, phương pháp giảng dạy, kiểm tra, đánh giá và điều kiện bảo đảm chất lượng; đồng thời phải bảo đảm tính khả thi, phù hợp với quy định pháp luật hiện hành.
Về quy trình xây dựng chương trình, Điều 6 Thông tư 62/2026/TT-BGDĐT quy định việc tổ chức biên soạn, thẩm định và ban hành chương trình phải bảo đảm tính khách quan, minh bạch, khoa học. Chương trình được biên soạn bởi Ban soạn thảo gồm giảng viên, nhà khoa học, chuyên gia, cán bộ quản lý có chuyên môn phù hợp, cùng đại diện tổ chức nghề nghiệp, đơn vị sử dụng lao động và cơ quan quản lý có liên quan (nếu có).
Sau khi xây dựng dự thảo, chương trình phải được lấy ý kiến các cơ sở đào tạo, chuyên gia và cơ quan quản lý có liên quan; đồng thời được công khai trên cổng thông tin điện tử của cơ quan được giao biên soạn, ban hành chương trình. Ban soạn thảo có trách nhiệm tổng hợp, tiếp thu và giải trình các ý kiến góp ý theo khoản 2 Điều 6 Thông tư 62/2026/TT-BGDĐT.
Trước khi ban hành, dự thảo chương trình phải được Hội đồng thẩm định thẩm định theo quy định tại Điều 8 Thông tư 62/2026/TT-BGDĐT. Căn cứ kết quả đánh giá của Hội đồng thẩm định, cơ quan được giao biên soạn, ban hành chương trình quyết định ban hành chương trình theo khoản 4 Điều 6 và Điều 9 Thông tư 62/2026/TT-BGDĐT.
Như vậy, Thông tư 62/2026/TT-BGDĐT đã thiết lập quy trình thống nhất trong xây dựng chương trình dạy và học các môn học, học phần bắt buộc sử dụng chung, từ khâu biên soạn, lấy ý kiến, thẩm định đến ban hành, góp phần bảo đảm chất lượng, tính minh bạch và khả năng đáp ứng yêu cầu đào tạo trong giáo dục đại học.
7. Quy định mới về công nhận văn bằng nước ngoài tại Việt Nam
Theo khoản 1 Điều 2 Thông tư 65/2026/TT-BGDĐT, công nhận văn bằng là việc xác nhận trình độ của người học được ghi trên văn bằng theo hệ thống giáo dục của nước nơi cơ sở giáo dục nước ngoài đặt trụ sở chính và xác định mức độ tương đương với bậc trình độ trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam khi có cơ sở đối chiếu phù hợp.
Trường hợp văn bằng đủ điều kiện công nhận nhưng chưa xác định được mức độ tương đương thì cung cấp thông tin liên quan đến văn bằng theo hệ thống giáo dục của nước cấp bằng.
Về điều kiện công nhận văn bằng nước ngoài tại Việt Nam, khoản 1 Điều 3 Thông tư 65/2026/TT-BGDĐT quy định văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài hoạt động hợp pháp, có chương trình giáo dục bảo đảm chất lượng cấp cho người học được công nhận khi đáp ứng một trong các điều kiện:
-
Cơ sở giáo dục được cơ quan có thẩm quyền về giáo dục của nước nơi đặt trụ sở chính cho phép đào tạo, cấp văn bằng;
-
Được tổ chức có thẩm quyền kiểm định chất lượng giáo dục kiểm định và văn bằng được cơ quan có thẩm quyền công nhận;
-
Chương trình giáo dục được kiểm định, được cho phép đào tạo và văn bằng được công nhận theo quy định của nước cấp bằng.
Thông tư cũng quy định điều kiện riêng đối với văn bằng cấp trong các trường hợp như học tập trực tiếp tại nước ngoài, cơ sở giáo dục nước ngoài hoạt động, liên kết đào tạo hoặc mở phân hiệu tại Việt Nam, đào tạo tại cơ sở đặt tại quốc gia khác, đào tạo từ xa, trực tuyến , văn bằng giáo dục nghề nghiệp và bằng tiến sĩ theo các phương thức đào tạo khác nhau.
Về thẩm quyền, khoản 1 Điều 4 Thông tư 65/2026/TT-BGDĐT quy định Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận văn bằng giáo dục nghề nghiệp và văn bằng giáo dục đại học. Đối với bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, bằng tốt nghiệp trung học phổ thông và chứng nhận hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông, thẩm quyền thuộc về Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo.
Kết quả công nhận văn bằng nước ngoài được ghi trên Giấy công nhận văn bằng dưới dạng văn bản giấy, văn bản điện tử hoặc văn bản số và có giá trị như nhau. Dữ liệu công nhận văn bằng được cập nhật vào cơ sở dữ liệu về công nhận văn bằng; thông tin tra cứu từ cơ sở dữ liệu hoặc hiển thị trên ứng dụng VNeID có giá trị xác minh thay cho việc cơ quan có thẩm quyền xác minh bằng văn bản theo khoản 1, khoản 2 Điều 6 Thông tư 65/2026/TT-BGDĐT.
Trên đây là thông tin về việc Chính sách mới về giáo dục hiệu lực tháng 9/2026...
RSS