
Theo khoản 2 Điều 11 Thông tư 70 2026 Bộ giáo dục và Đào tạo, việc tra cứu học bạ số được thực hiện qua các hệ thống dữ liệu sau:
- Hệ thống thông tin, phần mềm quản lý giáo dục;
- Cổng Dịch vụ công quốc gia, ứng dụng định danh quốc gia VNeID;
- Các nền tảng số khác khi đáp ứng các điều kiện kết nối, xác thực, bảo đảm an toàn thông tin và được cơ quan có thẩm quyền cho phép.
Như vậy, từ ngày 08/10/2026, có thể tra cứu dữ liệu học bạ số trên ứng dụng định danh quốc gia VNeID, cổng Dịch vụ công quốc gia và các nền tảng khác.
Bên cạnh đó, Điều 11 cũng quy định rõ các đối tượng được khai thác dữ liệu học bạ số gồm:
- Người học là chủ thể của dữ liệu học bạ số;
- Cha, mẹ hoặc người giám hộ của người học theo quy định của pháp luật;
- Cơ sở giáo dục, cơ quan quản lý giáo dục trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định;
- Cơ quan, tổ chức khác khi được pháp luật cho phép hoặc được sự đồng ý hợp lệ của chủ thể dữ liệu học bạ số.
Ngoài ra, tùy vào nhu cầu tra cứu học bạ số của từng nhóm đối tượng chủ thể, mức độ truy cập được quy định như sau:
Thứ nhất, người học được truy cập, tra cứu, khai thác, sử dụng học bạ số và thực hiện các quyền liên quan theo quy định của pháp luật. Riêng đối với người học chưa thành niên hoặc trường hợp pháp luật quy định phải thực hiện thông qua người đại diện hợp pháp thì thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan.
Thứ hai, đối tượng tra cứu là cha, mẹ hoặc người giám hộ của người học chưa thành niên được xem dữ liệu học bạ số của người học, theo dõi kết quả học tập, rèn luyện và đề nghị cơ sở giáo dục kiểm tra dữ liệu khi có căn cứ.
Thứ ba, đối với cơ sở giáo dục và cơ quan quản lý giáo dục được truy cập dữ liệu học bạ số theo phạm vi chức năng, nhiệm vụ và phân quyền nội bộ.
Thứ tư, cơ quan tiếp nhận dữ liệu học bạ số chỉ được truy cập phần dữ liệu học bạ số khi cần thiết để giải quyết thủ tục hành chính hoặc công việc theo thẩm quyền.
Thứ năm, đối với các chủ thể khác chỉ được khai thác khi có căn cứ pháp lý hoặc sự đồng ý hợp lệ của chủ thể dữ liệu học bạ số.
RSS