- 1. Đổi điện thoại không xác thực lại thuê bao có thể bị chấm dứt dịch vụ
- 2. Cấp xã được giao thêm nhiệm vụ về hòa giải lao động và đình công
- 3. Người được tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp Thanh tra” nhận thưởng bằng 0,3 lần mức lương cơ sở
- 4. Bổ sung nguyên tắc xác định giá trị tài sản để xử phạt vi phạm trong lĩnh vực quản lý tài sản công

1. Đổi điện thoại không xác thực lại thuê bao có thể bị chấm dứt dịch vụ
Từ ngày 15/6/2026, người sử dụng thuê bao di động khi thay đổi thiết bị sử dụng (đổi điện thoại) có thể bị tạm dừng, thậm chí bị chấm dứt cung cấp dịch vụ viễn thông nếu không thực hiện xác thực lại thuê bao theo yêu cầu của doanh nghiệp viễn thông. Nội dung này được quy định tại Điều 8 và khoản 2 Điều 9 Thông tư 08/2026/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ.
Cụ thể, theo khoản 1 Điều 8 Thông tư 08/2026/TT-BKHCN, trong thời hạn tối đa 02 giờ kể từ khi phát hiện thuê bao sử dụng thiết bị khác với thiết bị đã sử dụng trước đó, doanh nghiệp viễn thông phải thực hiện rà soát và tạm dừng cung cấp dịch vụ viễn thông chiều đi đối với thuê bao. Việc tạm dừng chiều đi đồng nghĩa người dùng không thể thực hiện cuộc gọi hoặc gửi tin nhắn SMS, đồng thời sẽ nhận được thông báo yêu cầu xác thực lại thông tin thuê bao.
Việc xác thực được thực hiện bằng hình ảnh chụp trực tiếp khuôn mặt của người sử dụng thuê bao. Dữ liệu này sẽ được đối chiếu với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước, Cơ sở dữ liệu quốc gia về xuất nhập cảnh hoặc dữ liệu sinh trắc học đã được doanh nghiệp viễn thông lưu giữ hợp pháp.
Đối với thuê bao di động H2H, khoản 2 Điều 8 Thông tư 08/2026/TT-BKHCN quy định người sử dụng phải hoàn thành việc xác thực lại trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bị tạm dừng cung cấp dịch vụ viễn thông chiều đi.
Nếu hết thời hạn 30 ngày mà chưa thực hiện xác thực lại, doanh nghiệp viễn thông sẽ tiếp tục tạm dừng cung cấp dịch vụ viễn thông hai chiều, đồng thời gửi thông báo về việc thanh lý hợp đồng và chấm dứt cung cấp dịch vụ. Trường hợp sau 05 ngày kể từ thời điểm bị tạm dừng dịch vụ hai chiều mà người sử dụng vẫn không hoàn thành việc xác thực lại, doanh nghiệp viễn thông được quyền chấm dứt cung cấp dịch vụ theo quy định.
2. Cấp xã được giao thêm nhiệm vụ về hòa giải lao động và đình công
Khoản 4 Điều 2 Thông tư 06/2026/TT-BNV đã điểm e và điểm g được bổ sung vào khoản 19 Điều 4 Thông tư 10/2025/TT-BNV.
Theo đó, cơ quan tham mưu về nội vụ cấp xã được giao tổ chức thực hiện các quy định về hòa giải viên lao động theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, cơ quan này còn có trách nhiệm tham mưu UBND cấp xã, Chủ tịch UBND cấp xã thực hiện các quy định liên quan đến đình công theo quy định của pháp luật.
Đây là các nhiệm vụ mới hoàn toàn so với Thông tư 10/2025/TT-BNV, góp phần hoàn thiện chức năng quản lý nhà nước của cấp xã trong lĩnh vực lao động.
Ngoài ra, Thông tư 06/2026/TT-BNV còn bổ sung khoản 32 Điều 4, quy định trường hợp đơn vị hành chính cấp xã không thành lập phòng chuyên môn thì công chức chuyên môn được bố trí tham mưu, giúp UBND cấp xã quản lý nhà nước đối với lĩnh vực nội vụ sẽ thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo hướng dẫn của Thông tư.
3. Người được tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp Thanh tra” nhận thưởng bằng 0,3 lần mức lương cơ sở
Theo khoản 1 Điều 11 Thông tư 01/2026/TT-TTCP, cá nhân được tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp Thanh tra” được nhận Bằng, khung, Kỷ niệm chương, hộp đựng Kỷ niệm chương và kèm theo mức tiền thưởng bằng 0,3 lần mức lương cơ sở.
Trước ngày 01/7/2026, mức lương cơ sở là 2,34 triệu đồng/tháng, do đó tiền thưởng kèm theo Kỷ niệm chương được xác định là: 0,3 x 2.340.000 đồng = 702.000 đồng.
Từ ngày 01/7/2026, mức lương cơ sở được nâng lên 2,53 triệu đồng/tháng, nên mức tiền thưởng tương ứng là: 0,3 x 2.530.000 đồng = 759.000 đồng.
Như vậy, kể từ ngày 01/7/2026, người được tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp Thanh tra” sẽ được nhận 759.000 đồng tiền thưởng, tăng 57.000 đồng so với trước đây.
Ngoài quyền được nhận Kỷ niệm chương và tiền thưởng, Điều 11 Thông tư 01/2026/TT-TTCP còn quy định tổ chức, cá nhân đề nghị xét tặng Kỷ niệm chương phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của hồ sơ đề nghị. Đồng thời, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc đề nghị xét tặng Kỷ niệm chương theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
4. Bổ sung nguyên tắc xác định giá trị tài sản để xử phạt vi phạm trong lĩnh vực quản lý tài sản công
Điều 1 Thông tư 45/2026/TT-BTC đã bổ sung Điều 3a vào Thông tư 29/2020/TT-BTC, quy định nguyên tắc xác định giá trị tài sản làm căn cứ xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý tài sản công.
Theo đó, giá trị tài sản được xác định theo giá trị còn lại trên sổ kế toán. Trường hợp giá trị còn lại bằng 0 thì giá trị tài sản được tính bằng 20% nguyên giá của tài sản. Đối với tài sản chưa được theo dõi, ghi sổ kế toán, việc xác định giá trị căn cứ vào nguồn gốc tài sản, hồ sơ, chứng từ liên quan và quy định về hao mòn, khấu hao tài sản.
Trường hợp không thể xác định giá trị tài sản theo các căn cứ nêu trên, người có thẩm quyền xử phạt được quyết định thành lập Hội đồng định giá để xác định giá trị tài sản. Hội đồng thực hiện khảo sát giá thị trường, tham khảo giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, giá do doanh nghiệp thẩm định giá cung cấp hoặc các nguồn thông tin hợp pháp khác để xác định giá trị tài sản.
Bên cạnh đó, Thông tư cũng quy định nguyên tắc hoạt động, trình tự họp và lập biên bản của Hội đồng định giá, làm cơ sở để xác định chính xác giá trị tài sản trong quá trình xử phạt vi phạm hành chính.
Đây là nội dung mới hoàn toàn so với Thông tư 29/2020/TT-BTC trước đây.
RSS