Luật Công nghệ cao sửa đổi 2025 và 8 điểm mới đáng chú ý

Bài viết tổng hợp 8 điểm mới đáng chú ý của Luật Công nghệ cao sửa đổi 2025 từ định hướng ưu đãi cao nhất, danh mục công nghệ chiến lược.., đến phân tầng doanh nghiệp và tăng vai trò của địa phương trong phát triển hệ sinh thái công nghệ cao.

1. Bổ sung khái niệm công nghệ chiến lược và công nghiệp chiến lược

Theo khoản 2, khoản 11 Điều 3 Luật Công nghệ cao 2025, số 133/2025/QH15:

- Công nghệ chiến lược là công nghệ có tính đột phá và lan tỏa, được Nhà nước xác định tập trung đầu tư phát triển nhằm tăng cường năng lực tự chủ công nghệ, tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững

- Công nghiệp chiến lược là ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ chiến lược và cung ứng dịch vụ công nghệ chiến lược

Ngoài ra, theo khoản 1 Điều 4 Luật Công nghệ cao 2025, số 133/2025/QH15 cũng quy định:

- Nhà nước xác định: 

  • Phát triển công nghệ cao, công nghệ chiến lược là đột phá chiến lược để phát triển nhanh, bền vững kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia

  • Áp dụng các mức ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về đầu tư, thuế, đất đai và các chính sách có liên quan đối với hoạt động công nghệ cao, công nghệ chiến lược.

Như vậy, sự khác biệt lớn nhất của Luật Công nghệ cao sửa đổi nằm ở việc bổ sung hai khái niệm quan trọng là công nghệ chiến lược và công nghiệp chiến lược.

Theo đó, việc phân loại mới cho phép Nhà nước tập trung nguồn lực vào nhóm công nghệ có tác động dài hạn tới nền kinh tế. Khác với công nghệ cao thông thường, công nghệ chiến lược còn phải đáp ứng các tiêu chí nêu tại khoản 2 Điều 5 Luật Công nghệ cao 2025, số 133/2025/QH15 như sau:

- Có tác động đột phá đến phát triển kinh tế - xã hội

- Tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia lâu dài

- Có khả năng hình thành phương thức sản xuất mới, ngành công nghiệp mới, chuỗi giá trị mới

- Có khả năng hình thành từ công nghệ lõi do tổ chức, cá nhân trong nước nghiên cứu, làm chủ nhằm tạo ra sản phẩm công nghệ chiến lược.

8 Điểm mới đáng chú ý của Luật Công nghệ cao sửa đổi 2025
luat-cong-nghe-cao-sua-doi-2025_1712105242.jpg">
Luật Công nghệ cao sửa đổi 2025 và 8 điểm mới đáng chú ý  (Ảnh minh hoạ)

Trước đây, theo khoản 3 Điều 5 Luật Công nghệ cao 2008 s

ố 21/2008/QH12, quy định về việc công nghệ cao được ưu tiên đầu từ phát triển như sau:

- Công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển phải phù hợp với yêu cầu, xu thế phát triển khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại của thế giới, phát huy lợi thế của đất nước, có tính khả thi và đáp ứng các điều kiện:

  • Có tác động mạnh và mang lại hiệu quả lớn đối với sự phát triển của các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh

level="1" dir="ltr">

Góp phần hiện đại hóa các ngành sản xuất, dịch vụ hiện có

  • Là yếu tố quan trọng quyết định việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới có sức cạnh tranh và hiệu quả kinh tế - xã hội cao.

  • Theo quy định mới, theo khoản 1, khoản 2 Điều 5 Luật Công nghệ cao 2025, số 133/2025/QH15 quy định:

    - Công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển là công nghệ cao đáp ứng các tiêu chí sau đây:

    • Giữ vai tr

      ò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển quốc gia, nâng cao năng suất nhân tố tổng hợp, chuyển đổi mô hình tăng trưởng; bảo đảm quốc phòng, an ninh

    •  Phù hợp với định hướng phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia và phù hợp với thực tiễn Việt Nam

    • Có khả năng nghiên cứu, làm chủ, cải tiến hoặc nội địa hóa bởi tổ chức, cá nhân trong nước hoặc giữ vai trò nền tảng hình thành ngành sản xuất mới, chuỗi giá trị mới, dịch vụ mới có tiềm năng cạnh tranh quốc tế hoặc có khả năng thu hút đầu tư kèm chuyển giao công nghệ hoặc góp phần phát triển kinh tế - xã hội các vùng đặc biệt khó khăn.

    - Công nghệ chiến lược

    là công nghệ đáp ứng các tiêu chí sau:

    • Có tác động đột phá đến phát triển kinh tế - xã hội

    • Tạo lợi thế cạnh tranh quốc gia lâu dài

    • Có khả năng hình thành phương thức sản xuất mới, ngành công nghiệp mới, chuỗi giá trị mới<

      /p>
    • Có khả năng hình thành từ công nghệ lõi do tổ chức, cá nhân trong nước nghiên cứu, làm chủ nhằm tạo ra sản phẩm công nghệ chiến lược.

    Như vậy, tiêu chí xác định công nghệ cao ưu tiên đầu tư phát triển tương tự luật cũ, nhưng luật mới thêm tiêu chí cho công nghệ chiến lược như tác động đột phá kinh tế xã hội, hình thành ngày mới, chuỗi giá trị mới.

    Theo đó, trước đây, Danh mục công nghệ cao, sản phẩm công nghệ cao cập nhật định kỳ, quy định tại Phụ lục I, Phụ lục

    II ban hành kèm theo Quyết định 38/2020/QĐ-TTg. Theo Luật mới, bổ sung thêm Danh mục công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược quy định tại Điều 5, Điều 6 Luật Công nghệ cao sửa đổi.

    Trước đây, theo Điều 7 Luật Công nghệ cao 2008 số 21/2008/QH12 quy định về hợp tác quốc tế về công nghệ cao như sau:

    dir="ltr">- Mở rộng hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, ứng dụng và phát triển công nghệ cao, đặc biệt là với quốc gia, vùng lãnh thổ, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tập đoàn kinh tế đa quốc gia, tập đoàn kinh tế nước ngoài có trình độ khoa học và công nghệ tiên tiến trên nguyên tắc phù hợp với pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

    - Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân Việt Nam tham gia các chương trình, dự án hợp tác quốc tế, hội,

    hiệp hội quốc tế và tổ chức khác về công nghệ cao; thu hút tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện hoạt động công nghệ cao tại Việt Nam.

    - Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phát triển nhân lực công nghệ cao, ưu tiên hợp tác đào tạo sinh viên ngành kỹ thuật công nghệ cao tại các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề tiên tiến khu vực và thế giới; thu hút, sử dụng có hiệu quả người có trình độ cao, lực lượng trẻ tài năng hợp tác nghiên cứu, giảng dạy, ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo và phát triển doanh nghiệp công

    nghệ cao tại Việt Nam.

    - Thực hiện lộ trình hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ, đẩy mạnh hoạt động tìm kiếm, chuyển giao công nghệ tiên tiến vào Việt Nam nhằm nâng cao năng lực làm chủ và sáng tạo công nghệ cao của tổ chức nghiên cứu, đào tạo, doanh nghiệp trong nước.

    Theo Luật mới, quy định về hợp tác quốc tế về công nghệ cao, công nghệ chiến lược được nêu tại Điều 7 Luật Công nghệ cao 2025, số 133/2025/QH15 như sau:

    <
    p dir="ltr">- Nhà nước: 

    • Tạo điều kiện và hỗ trợ tổ chức, cá nhân trong nước hợp tác quốc tế trong nghiên cứu và phát triển, chuyển giao, ứng dụng và thương mại hóa công nghệ cao, công nghệ chiến lược

    • Tham gia mạng lưới đổi mới sáng tạo, chuỗi giá trị và dự án hợp tác khu vực, toàn cầu phù hợp pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

    • Mở rộng hợp tác trong phát triển các công nghệ cao, công nghệ ch

      iến lược có tiềm năng tạo đột phá, đóng vai trò nền tảng cho chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh và tăng cường năng lực tự chủ công nghệ quốc gia.

    • Có chính sách ưu đãi thu hút đầu tư nước ngoài chất lượng cao thông qua liên doanh, hợp tác nghiên cứu và phát triển, đồng phát triển và chuyển giao công nghệ có điều kiện

    • Gắn đầu tư với nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, hình thành cơ sở nghiên cứu và phát triển, đào tạo, phát triển chuỗi cung ứng và nâng cao năng lực làm chủ công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam

    • Tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu và đầu tư ra nước ngoài đối với công nghệ và sản phẩm công nghệ cao, công nghệ chiến lược có lợi thế.

    - Việc hợp tác và lựa chọn đối tác quốc tế phải bảo đảm lợi ích quốc gia, quốc phòng, an ninh; thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo điều ước quốc tế về khoa học, công nghệ, sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, an ninh mạng và các hiệp định thương mại t

    ự do mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

    Như vậy, theo Luật mới, quy định về hợp tác quốc tế được mở rộng, nhấn mạnh thu hút đầu tư kèm chuyển giao công nghệ, nội địa hóa, xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao, công nghệ chiến lược.

    Trước đây, theo khoản 4 Điều 3 Luật Công nghệ cao 2008 số 21/2008/QH12 quy định:

    - Doanh nghiệp công nghệ cao là doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao, cung ứng dịch vụ công nghệ cao, có hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao.

    Theo Điều 15 Luật Công nghệ cao 2025, số 133/2025/QH15 quy định về doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ cao và doanh nghiệp công nghệ chiến lược như sau:

    - Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao là doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chí sau đây:

    a-level="1" dir="ltr">

    Sản xuất sản phẩm công nghệ cao hoặc cung ứng dịch vụ và thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển 

  • Áp dụng các biện pháp thân thiện môi trường, tiết kiệm năng lượng, hệ thống quản lý chất lượng đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam; trường hợp chưa có tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam thì áp dụng tiêu chuẩn khu vực, nước ngoài. 

  • - Doanh nghiệp công nghệ cao là doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chí sau: 

    • Sở hữu, đồng sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp công nghệ hoặc có hoạt động chuyển giao công nghệ theo quy định của pháp luật để phát triển và ứng dụng công nghệ cao, sản xuất sản phẩm hoặc dịch vụ công nghệ cao

    • Đáp ứng tiêu chí về doanh thu, chi nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam, lao động trực tiếp thực hiện nghiên cứu và phát triển. 

    - Doanh nghiệp công nghệ cao được phân loại thành hai nhóm

    1" dir="ltr">

    Doanh nghiệp công nghệ cao nhóm 1 

  • Doanh nghiệp công nghệ cao nhóm 2.

  • - Doanh nghiệp công nghệ cao nhóm 1 là doanh nghiệp công nghệ cao đáp ứng tiêu chí của doanh nghiệp công nghệ cao và các tiêu chí sau: 

    ation">Thực hiện hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao, sản phẩm công nghệ cao

  • Sản xuất sản phẩm công nghệ cao đạt tỷ lệ nội địa hóa tối thiểu do Chính phủ quy định theo ngành, lĩnh vực

  • Bảo đảm tổng mức chi cho hoạt động nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam hằng năm đạt tối thiểu 1% trên doanh thu thuần sau

    khi trừ giá trị đầu vào

  • - Doanh nghiệp công nghệ cao nhóm 2 là doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chí của doanh nghiệp công nghệ cao.

    - Doanh nghiệp công nghệ chiến lược là doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chí sau đây:

    • Sản xuất sản phẩm công nghệ chiến lược hoặc cung ứng dịch vụ công nghệ chiến lược đáp ứng và thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược