Việc đưa người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh ra khỏi khu điều trị nội trú được quy định thế nào?

Khi cần ra khỏi khu điều trị nội trú để khám, chữa bệnh theo yêu cầu chuyên môn, người đang bắt buộc chữa bệnh phải được quản lý, hỗ trợ bảo đảm an ninh, an toàn. Vậy việc đưa người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh ra khỏi khu điều trị nội trú được quy định thế nào?

1. Việc đưa người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh ra khỏi khu điều trị nội trú được quy định thế nào?

Theo khoản 3 Điều 8 Nghị định 257/2026/NĐ-CP quy định khi cần đưa người ra khỏi khu điều trị nội trú theo yêu cầu chuyên môn, người đứng đầu cơ sở điều trị bắt buộc quyết định bố trí lực lượng bảo vệ hỗ trợ, căn cứ tình trạng bệnh, mức độ nguy cơ và yêu cầu an ninh, an toàn. Trường hợp cần thiết, cơ sở đề nghị công an cấp xã hoặc cơ quan, đơn vị liên quan phối hợp hỗ trợ. 

1.1. Đưa ra khỏi khu điều trị nội trú theo yêu cầu chuyên môn

Khoản 3 Điều 8 Nghị định 257/2026/NĐ-CP đề cập trường hợp cần đưa người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh ra khỏi khu vực điều trị nội trú theo yêu cầu chuyên môn.

Trong trường hợp này, người đứng đầu cơ sở điều trị bắt buộc căn cứ vào ba nội dung để quyết định bố trí lực lượng bảo vệ tham gia hỗ trợ:

  • Tình trạng bệnh của người đang bắt buộc chữa bệnh.
  • Mức độ nguy cơ.
  • Yêu cầu bảo đảm an ninh, an toàn.

Đồng thời, nếu cần thiết, cơ sở đề nghị cơ quan công an cấp xã hoặc cơ quan, đơn vị có liên quan phối hợp hỗ trợ theo quy định của pháp luật.

1.2. Giám sát việc di chuyển, tiếp xúc khi cần thiết

Liên quan đến việc quản lý trong quá trình khám, chữa bệnh, điểm b khoản 2 Điều 8 quy định khoa điều trị nội trú có thể bố trí lực lượng bảo vệ phối hợp với nhân viên y tế để giám sát, kiểm soát việc di chuyển, tiếp xúc.

Biện pháp này được áp dụng trong trường hợp cần thiết, căn cứ tình trạng tâm thần và mức độ nguy hiểm của người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.

Việc giám sát, kiểm soát được thực hiện trước, trong và sau quá trình khám bệnh, chữa bệnh. Lực lượng bảo vệ đồng thời hỗ trợ nhân viên y tế xử lý khi người đang điều trị có hành vi kích động, chống đối hoặc có nguy cơ gây nguy hiểm cho bản thân hay người khác.

Việc đưa người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh ra khỏi khu điều trị nội trú được quy định thế nào?
Việc đưa người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh ra khỏi khu điều trị nội trú được quy định thế nào? (Ảnh minh họa)

2. Trước khi chuyển đến cơ sở khám, chữa bệnh khác phải thực hiện những việc gì?

Đối với trường hợp phải chuyển đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác để khám, chữa bệnh không thuộc chuyên khoa tâm thần, Điều 9 Nghị định 257/2026/NĐ-CP quy định riêng trách nhiệm phối hợp quản lý.

Trong phạm vi Điều này, cơ sở tiếp nhận để khám, chữa bệnh không thuộc chuyên khoa tâm thần được gọi là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

2.1. Hội chẩn chuyên môn, trừ trường hợp cấp cứu

Điểm a khoản 1 Điều 9 yêu cầu cơ sở điều trị bắt buộc:

“Thực hiện hội chẩn chuyên môn, trừ trường hợp cấp cứu;”

Yêu cầu này áp dụng trước khi chuyển người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác để khám, chữa bệnh không thuộc chuyên khoa tâm thần.

2.2. Bố trí lực lượng bảo vệ tham gia chuyển người

Bên cạnh việc hội chẩn chuyên môn, điểm b khoản 1 Điều 9 quy định cơ sở điều trị bắt buộc có trách nhiệm:

“Bố trí lực lượng bảo vệ tham gia thực hiện chuyển người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh;”

Sau khi đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác, việc bàn giao và phối hợp quản lý được thực hiện tùy trường hợp người đó không phải điều trị nội trú hoặc phải điều trị nội trú.

3. Nếu không phải điều trị nội trú thì bàn giao người trở lại thế nào?

Căn cứ khoản 2 Điều 9 Nghị định 257/2026/NĐ-CP quy định cách xử lý sau khi hoàn thành việc khám bệnh mà người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh không phải điều trị nội trú.

Theo đó, nhân viên y tế được phân công đưa người đi khám, cùng với người của lực lượng bảo vệ và công an cấp xã nếu có, bàn giao lại người đó cho khoa điều trị nội trú của cơ sở điều trị bắt buộc.

Các chủ thể tham gia việc bàn giao lại gồm:

  • Nhân viên y tế được phân công đưa người đi khám bệnh.
  • Người của lực lượng bảo vệ.
  • Công an cấp xã, nếu có.

Nơi tiếp nhận bàn giao lại là khoa điều trị nội trú của cơ sở điều trị bắt buộc sau khi đã hoàn thành việc khám bệnh.

4. Nếu phải điều trị nội trú tại cơ sở khác thì trách nhiệm quản lý được phân định ra sao?

Khoản 3 Điều 9 Nghị định 257/2026/NĐ-CP quy định trách nhiệm của cả cơ sở điều trị bắt buộc và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tiếp nhận người vào điều trị nội trú.

4.1. Lập biên bản, bàn giao người và hồ sơ chuyên môn

Theo điểm a khoản 3 Điều 9 yêu cầu nhân viên y tế được phân công đưa người đến khám, chữa bệnh theo yêu cầu chuyên môn thực hiện:

  • Lập biên bản giao nhận theo Mẫu số 03 tại Phụ lục ban hành kèm Nghị định.
  • Bàn giao người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
  • Bàn giao hồ sơ, tài liệu chuyên môn cần thiết.

Sau đó, nhân viên y tế phải báo cáo Thủ trưởng cơ sở điều trị bắt buộc để bố trí nhân lực gồm nhân viên y tế, lực lượng bảo vệ, chủ trì và phối hợp với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quản lý người đang điều trị.

4.2. Thông báo bằng văn bản cho các cơ quan liên quan

Cũng theo điểm a khoản 3 Điều 9, cơ sở điều trị bắt buộc phải thông báo bằng văn bản về việc người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh phải điều trị nội trú bệnh khác tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Thông báo được gửi đến:

  • Cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, để có biện pháp quản lý.
  • Cơ quan đã ban hành quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, để biết.

4.3. Cơ sở tiếp nhận phối hợp quản lý trong thời gian điều trị nội trú

Về phía cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tiếp nhận, điểm b khoản 3 Điều 9 quy định các trách nhiệm:

  • Tiếp nhận bàn giao người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh cùng biên bản giao nhận, hồ sơ và tài liệu chuyên môn cần thiết từ cơ sở điều trị bắt buộc.
  • Phối hợp với cơ sở điều trị bắt buộc quản lý người đó trong thời gian điều trị nội trú.

Ngoài ra, căn cứ tình trạng bệnh, mức độ nguy cơ và yêu cầu bảo đảm an ninh, an toàn, cơ sở tiếp nhận quyết định việc đề nghị cơ quan công an cấp xã nơi cơ sở đóng trụ sở hỗ trợ quản lý người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.

Trên đây là thông tin về việc đưa người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh ra khỏi khu điều trị nội trú. Bạn đọc có thể truy cập LuatVietnam.vn để tra cứu toàn văn Nghị định 257/2026/NĐ-CP, thông tin hiệu lực, lược đồ và các văn bản liên quan.

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh được phân loại, bố trí điều trị theo những tiêu chí nào?

Người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh được phân loại, bố trí điều trị theo những tiêu chí nào?

Người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh được phân loại, bố trí điều trị theo những tiêu chí nào?

Việc phân loại, bố trí điều trị bắt buộc chữa bệnh phải căn cứ vào tình trạng của từng người và yêu cầu chuyên môn. Vậy người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh được phân loại, bố trí điều trị theo những tiêu chí nào?

Không kê khai hoặc không cung cấp đầy đủ hồ sơ giao dịch liên kết có bị ấn định thuế không?

Không kê khai hoặc không cung cấp đầy đủ hồ sơ giao dịch liên kết có bị ấn định thuế không?

Không kê khai hoặc không cung cấp đầy đủ hồ sơ giao dịch liên kết có bị ấn định thuế không?

Doanh nghiệp có giao dịch liên kết phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ kê khai và chuẩn bị Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết theo Nghị định 255/2026/NĐ-CP. Vậy không kê khai hoặc không cung cấp đầy đủ hồ sơ giao dịch liên kết có bị ấn định thuế không?

Doanh nghiệp có công ty mẹ tối cao ở nước ngoài phải nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia tại Việt Nam trong trường hợp nào?

Doanh nghiệp có công ty mẹ tối cao ở nước ngoài phải nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia tại Việt Nam trong trường hợp nào?

Doanh nghiệp có công ty mẹ tối cao ở nước ngoài phải nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia tại Việt Nam trong trường hợp nào?

Doanh nghiệp tại Việt Nam có Công ty mẹ tối cao ở nước ngoài không phải trong mọi trường hợp đều trực tiếp nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia tại Việt Nam. Vậy doanh nghiệp có công ty mẹ tối cao ở nước ngoài phải nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia tại Việt Nam trong trường hợp nào?

Tổ hợp tác cần đáp ứng những tiêu chí nào để được xem xét hưởng chính sách hỗ trợ của Nhà nước?

Tổ hợp tác cần đáp ứng những tiêu chí nào để được xem xét hưởng chính sách hỗ trợ của Nhà nước?

Tổ hợp tác cần đáp ứng những tiêu chí nào để được xem xét hưởng chính sách hỗ trợ của Nhà nước?

Nghị định 294/2026/NĐ-CP quy định cụ thể các điều kiện để được xem xét hỗ trợ. Vậy tổ hợp tác cần đáp ứng những tiêu chí nào để được xem xét hưởng chính sách hỗ trợ của Nhà nước?

Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết gồm những gì?

Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết gồm những gì?

Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết gồm những gì?

Doanh nghiệp có giao dịch liên kết không chỉ phải kê khai thông tin về quan hệ liên kết mà trong trường hợp thuộc diện phải lập hồ sơ còn phải chuẩn bị nhiều tài liệu để chứng minh việc xác định giá giao dịch liên kết. Vậy hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết gồm những gì?

Nền tảng thương mại điện tử phải gỡ thông tin hàng hóa vi phạm trong bao lâu khi cơ quan nhà nước yêu cầu?

Nền tảng thương mại điện tử phải gỡ thông tin hàng hóa vi phạm trong bao lâu khi cơ quan nhà nước yêu cầu?

Nền tảng thương mại điện tử phải gỡ thông tin hàng hóa vi phạm trong bao lâu khi cơ quan nhà nước yêu cầu?

Việc xử lý thông tin hàng hóa vi phạm đặt ra yêu cầu về thời hạn gỡ bỏ và báo cáo kết quả thực hiện. Vậy nền tảng thương mại điện tử phải gỡ thông tin hàng hóa vi phạm trong bao lâu khi cơ quan nhà nước yêu cầu?