- 1. Học sinh bị cấm làm những gì khi sử dụng AI trong nghiên cứu khoa học?
- 2. Học sinh được sử dụng AI trong nghiên cứu khoa học như thế nào?
- 3. Người hướng dẫn nghiên cứu có trách nhiệm gì khi học sinh sử dụng AI?
- 4. Quy trình đăng ký, phê duyệt và lựa chọn dự án nghiên cứu khoa học của học sinh được thực hiện như thế nào?
1. Học sinh bị cấm làm những gì khi sử dụng AI trong nghiên cứu khoa học?
Theo khoản 3 Điều 15 Quy chế ban hành kèm theo Thông tư 84/2026/TT-BGDĐT, học sinh bị nghiêm cấm thực hiện 04 hành vi sau khi sử dụng công nghệ số hoặc trí tuệ nhân tạo (AI) trong nghiên cứu khoa học:
- Sử dụng công nghệ số hoặc trí tuệ nhân tạo để giả mạo quá trình nghiên cứu, tạo lập hoặc làm sai lệch dữ liệu, kết quả nghiên cứu;
- Sử dụng công nghệ số hoặc trí tuệ nhân tạo để sao chép, chiếm đoạt hoặc trình bày kết quả nghiên cứu của tổ chức, cá nhân khác như là kết quả nghiên cứu của mình;
- Che giấu hoặc kê khai không trung thực về việc sử dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong hồ sơ dự thi;
- Sử dụng công nghệ số hoặc trí tuệ nhân tạo để tạo lập bằng chứng nghiên cứu không có thực, giả mạo nhật ký nghiên cứu, dữ liệu gốc hoặc để thực hiện thay học sinh các nội dung nghiên cứu cốt lõi quy định tại khoản 2 Điều 16 Quy chế này.
Các nội dung nghiên cứu cốt lõi được quy định tại khoản 2 Điều 16 Quy chế, bao gồm:
-
Đối với dự án khoa học: Thiết kế nghiên cứu; thu thập, xử lý dữ liệu gốc; phân tích, giải thích kết quả và đưa ra kết luận nghiên cứu.
-
Đối với dự án kỹ thuật: Thiết kế nghiên cứu; chế tạo, kiểm tra nguyên mẫu, mô hình và đưa ra kết luận nghiên cứu.
Như vậy, học sinh không bị cấm hoàn toàn việc sử dụng AI trong nghiên cứu khoa học, nhưng không được dùng AI để gian lận, làm giả dữ liệu, sao chép kết quả của người khác, che giấu việc sử dụng AI hoặc để AI thực hiện thay các công việc nghiên cứu cốt lõi.

2. Học sinh được sử dụng AI trong nghiên cứu khoa học như thế nào?
Theo khoản 1 Điều 15 Quy chế ban hành kèm theo Thông tư 84/2026/TT-BGDĐT, việc sử dụng công nghệ số, AI trong quá trình thực hiện dự án nghiên cứu khoa học được chia thành 03 nhóm:
(1) Được phép sử dụng AI mà không phải khai báo
Học sinh được sử dụng AI để thực hiện các công việc sau mà không phải khai báo trong hồ sơ dự thi:
-
Tra cứu thông tin, tài liệu tham khảo.
-
Kiểm tra chính tả, ngữ pháp.
(2) Được phép sử dụng AI nhưng phải khai báo
Học sinh được sử dụng AI để hỗ trợ các công việc sau nhưng phải khai báo trong hồ sơ dự thi:
-
Xử lý, phân tích dữ liệu.
-
Mô phỏng, lập trình.
-
Tạo lập hình ảnh, sơ đồ.
-
Biên soạn, biên dịch nội dung báo cáo, poster.
-
Các trường hợp sử dụng AI khác có ảnh hưởng đến nội dung, kết quả nghiên cứu hoặc sản phẩm trình bày của dự án.
(3) Nghiêm cấm sử dụng AI
Học sinh không được sử dụng AI để thực hiện các hành vi gian lận, giả mạo dữ liệu, kết quả nghiên cứu; sao chép, chiếm đoạt kết quả nghiên cứu của người khác; khai báo không trung thực việc sử dụng AI hoặc để AI làm thay các nội dung nghiên cứu cốt lõi của dự án.
Lưu ý: Theo khoản 2 Điều 15 Quy chế, học sinh có trách nhiệm kê khai trung thực trong hồ sơ dự thi về mục đích, phạm vi và mức độ sử dụng công nghệ số, AI (nếu có).
Đồng thời, học sinh phải chịu trách nhiệm về tính trung thực của nội dung kê khai cũng như tính trung thực, tính nguyên gốc của dự án và kết quả nghiên cứu.
3. Người hướng dẫn nghiên cứu có trách nhiệm gì khi học sinh sử dụng AI?
Theo Điều 16 Quy chế ban hành kèm theo Thông tư 84/2026/TT-BGDĐT, người hướng dẫn nghiên cứu có trách nhiệm hướng dẫn và giám sát học sinh trong quá trình thực hiện dự án. Cụ thể:
-
Hướng dẫn học sinh sử dụng AI đúng mục đích, an toàn và có trách nhiệm; xác nhận nội dung khai báo về việc sử dụng AI của học sinh theo khoản 2 Điều 15.
-
Bảo đảm học sinh trực tiếp tham gia thực hiện dự án một cách thực chất, độc lập.
-
Không được làm thay học sinh các nội dung nghiên cứu cốt lõi như thiết kế nghiên cứu, thu thập và xử lý dữ liệu gốc, phân tích kết quả hoặc chế tạo, kiểm tra mô hình.
-
Được hỗ trợ học sinh về phương pháp, kỹ thuật, thiết bị, công cụ và điều kiện nghiên cứu nhưng không được làm mất tính độc lập của học sinh.
-
Chịu trách nhiệm khi để xảy ra vi phạm về liêm chính khoa học đối với dự án do mình hướng dẫn theo quy định.
4. Quy trình đăng ký, phê duyệt và lựa chọn dự án nghiên cứu khoa học của học sinh được thực hiện như thế nào?
Theo Điều 17 Quy chế ban hành kèm theo Thông tư 84/2026/TT-BGDĐT, quy trình đăng ký, phê duyệt và lựa chọn dự án nghiên cứu khoa học của học sinh được thực hiện như sau:
Đối với cơ sở giáo dục
- Thông báo công khai mục tiêu, nội dung, yêu cầu, tiêu chí đánh giá dự án dự thi và hình thức tổ chức cuộc thi để giáo viên, nhân viên hướng dẫn học sinh lựa chọn đề tài, xây dựng kế hoạch nghiên cứu.
- Trình phê duyệt kế hoạch nghiên cứu: Giáo viên, nhân viên hướng dẫn học sinh xây dựng kế hoạch nghiên cứu, sau đó báo cáo tổ chuyên môn để đề nghị người đứng đầu cơ sở giáo dục xem xét, phê duyệt.
- Phê duyệt và giám sát dự án: Người đứng đầu cơ sở giáo dục phê duyệt kế hoạch nghiên cứu và người hướng dẫn nghiên cứu; chỉ đạo tổ chuyên môn theo dõi, hỗ trợ học sinh thực hiện dự án và ghi chép nhật ký nghiên cứu.
- Đánh giá, lựa chọn dự án: Cơ sở giáo dục tổ chức đánh giá các dự án của học sinh, lựa chọn dự án gửi đơn vị dự thi để tiếp tục đánh giá, lựa chọn.
- Đánh giá an toàn đối với dự án có yếu tố rủi ro:
Đối với dự án thuộc diện phải phê duyệt rủi ro, người đứng đầu cơ sở giáo dục phải tổ chức đánh giá sơ bộ mức độ an toàn trước khi học sinh tiến hành thí nghiệm, can thiệp hoặc thu thập dữ liệu có yếu tố rủi ro.
Việc đánh giá phải có ý kiến bằng văn bản của ít nhất một người có chuyên môn phù hợp, không phải người hướng dẫn nghiên cứu của dự án.
Nếu vượt quá năng lực chuyên môn của cơ sở giáo dục thì phải có ý kiến bằng văn bản của chuyên gia hoặc tổ chức chuyên môn phù hợp trước khi thực hiện.
Đối với đơn vị dự thi
- Tổ chức cuộc thi cấp đơn vị: Đánh giá, lựa chọn dự án theo tiêu chí tại Phụ lục 2 Quy chế và cử dự án tham gia cuộc thi theo số lượng quy định.
- Gửi hồ sơ dự thi: Gửi hồ sơ về Bộ Giáo dục và Đào tạo trước ngày khai mạc cuộc thi ít nhất 30 ngày.
- Công khai danh sách dự án: Công bố công khai danh sách các dự án được lựa chọn tham gia cuộc thi.
- Không tự đặt thêm điều kiện dự thi: Đơn vị dự thi không được quy định thêm điều kiện đối với học sinh, thành phần hồ sơ, tiêu chí đánh giá, điều kiện lựa chọn dự án hoặc hạn chế quyền tham gia của học sinh ngoài quy định của Quy chế.
Như vậy, dự án nghiên cứu khoa học của học sinh phải trải qua quá trình xây dựng kế hoạch, phê duyệt, thực hiện và đánh giá tại cơ sở giáo dục trước khi được lựa chọn tham gia cuộc thi ở cấp tiếp theo.
Đối với dự án có yếu tố rủi ro thuộc diện phải phê duyệt, việc đánh giá an toàn phải được thực hiện trước khi tiến hành các hoạt động nghiên cứu có liên quan.
Trên đây là thông tin về việc Học sinh bị cấm làm những gì khi sử dụng AI trong nghiên cứu khoa học?
RSS