Theo khoản 1 Điều 3 Thông tư 70 2026 BGDĐT (hiệu lực từ 08/10/2026):
1. Học bạ số là dữ liệu điện tử ghi nhận có hệ thống quá trình học tập, kết quả học tập, kết quả rèn luyện, nhận xét, đánh giá và các thông tin liên quan của người học trong quá trình học tập tại cơ sở giáo dục.
Khoản 1 Điều 4 Thông tư này quy định học bạ số có giá trị pháp lý khi được tạo lập, cập nhật, xác thực, ký số và phát hành đúng quy định của pháp luật và quy định tại Thông tư 70.

Cụ thể, theo khoản 2 Điều 4, học bạ số phải được tạo lập đúng thẩm quyền, đúng quy trình, đúng chuẩn dữ liệu, có đầy đủ nội dung theo quy định và được ký số theo Điều 9 Thông tư 70. Khi đáp ứng các điều kiện này, học bạ số có giá trị pháp lý như học bạ giấy và được sử dụng trong hoạt động quản lý giáo dục và đào tạo, thực hiện thủ tục hành chính và các giao dịch hợp pháp có liên quan.
Bản điện tử học bạ số và bản trích lục điện tử học bạ số được tạo lập, trích xuất từ hệ thống học bạ số, có xác nhận của cơ sở giáo dục cũng có giá trị sử dụng đối với những thông tin được thể hiện trên bản điện tử hoặc bản trích lục.
Việc ký số học bạ được thực hiện theo cơ chế ký số của cá nhân có thẩm quyền và ký số của cơ sở giáo dục. Theo Điều 9, người có thẩm quyền ký số gồm giáo viên môn học, giáo viên phụ trách hoạt động giáo dục, giáo viên chủ nhiệm, người đứng đầu cơ sở giáo dục hoặc người được phân công, ủy quyền. Sau đó, cơ sở giáo dục sử dụng chữ ký số của tổ chức để xác nhận trách nhiệm đối với học bạ số do mình tạo lập, quản lý và phát hành.
Đáng chú ý, khoản 3 Điều 12 quy định khi học bạ số, bản điện tử hoặc bản trích lục điện tử học bạ số đã đáp ứng đầy đủ điều kiện, cơ quan, tổ chức tiếp nhận không được yêu cầu người học nộp thêm học bạ giấy, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Học bạ giấy được lập trước ngày Thông tư 70 có hiệu lực vẫn tiếp tục có giá trị sử dụng theo khoản 1 Điều 25. Kể từ ngày 08/10/2026, các cơ sở giáo dục thực hiện tạo lập học bạ số đối với cả người học đang theo học và người học mới.
RSS