Theo Công văn 250/TANDTC-PC ngày 28/4/2026, Tòa án nhân dân tối cao giải đáp vướng mắc liên quan trường hợp người phạm tội bị tuyên hình phạt tử hình trước ngày 01/7/2025 về Tội sản xuất trái phép chất ma túy theo Điều 248 hoặc Tội mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 251 Bộ luật Hình sự nhưng chưa thi hành án.
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 4 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2025, số 86/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, trường hợp hình phạt tử hình đã tuyên trước ngày 01/7/2025 đối với người phạm các tội danh nêu trên mà chưa thi hành án thì được chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân nếu:
- Khối lượng, thể tích chất ma túy được xác định trong bản án lớn hơn mức tối thiểu quy định tại khoản 5 Điều 248 hoặc khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự
- Và người phạm tội không phải là chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy hoặc không có từ 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trở lên.

TANDTC cũng hướng dẫn, trường hợp bản án không xác định người phạm tội là chủ mưu, cầm đầu hoặc chỉ huy; đồng thời không xác định người đó có từ 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trở lên theo hướng dẫn tại Điều 5 Nghị quyết 03/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì Tòa án xem xét quyết định chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân đối với người phạm tội, không phụ thuộc vào khối lượng, thể tích chất ma túy được xác định trong bản án.
Bên cạnh đó, Công văn 250/TANDTC-PC còn giải đáp nhiều vướng mắc khác liên quan các tội phạm về ma túy. Theo đó, đối với Điều 256a Bộ luật Hình sự về Tội sử dụng trái phép chất ma túy, người đang trong thời hạn cai nghiện, quản lý sau cai nghiện hoặc trong thời hạn 02 năm kể từ ngày kết thúc quản lý sau cai nghiện mà tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự, không phụ thuộc các thời hạn này phát sinh trước hay sau ngày 01/7/2025.
Ngoài ra, TANDTC cũng hướng dẫn trường hợp người nghiện ma túy đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng hoặc điều trị nghiện bằng thuốc thay thế nhưng không có quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện của Chủ tịch UBND cấp xã thì không có căn cứ xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 256a Bộ luật Hình sự.
RSS