Tăng 8% trợ cấp hằng tháng cho quân nhân phục viên, xuất ngũ từ 01/7/2026, mức cao nhất 3,353 triệu đồng/tháng

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã ban hành Thông tư 103/2026/TT-BQP ngày 17/7/2026 quy định điều chỉnh trợ cấp hằng tháng đối với quân nhân, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc. 

Cụ thể, theo khoản 1 Điều 3 Thông tư 103/2026/TT-BQP, mức trợ cấp hằng tháng được điều chỉnh tăng thêm 8% trên mức trợ cấp hằng tháng của tháng 6/2026. Mức trợ cấp từ tháng 7/2026 được xác định theo công thức:

Mức trợ cấp hằng tháng được hưởng từ tháng 7/2026 = Mức trợ cấp hằng tháng được hưởng tại thời điểm tháng 6/2026 × 1,08.

Các trường hợp được áp dụng chính sách điều chỉnh này gồm:

  • Quân nhân đã phục viên, xuất ngũ đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định 142/2008/QĐ-TTg (đã được sửa đổi, bổ sung)
  • Và quân nhân, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định 62/2011/QĐ-TTg (đã được sửa đổi, bổ sung).
Tăng 8% trợ cấp hằng tháng cho quân nhân phục viên, xuất ngũ từ 01/7/2026
Tăng 8% trợ cấp hằng tháng cho quân nhân phục viên, xuất ngũ từ 01/7/2026 (Ảnh minh họa)

Sau khi điều chỉnh tăng 8%, khoản 2 Điều 3 Thông tư 103/2026/TT-BQP quy định mức trợ cấp hằng tháng mới theo thời gian công tác như sau:

  • Từ đủ 15 năm đến dưới 16 năm: 2.838.000 đồng/tháng;
  • Từ đủ 16 năm đến dưới 17 năm: 2.966.000 đồng/tháng;
  • Từ đủ 17 năm đến dưới 18 năm: 3.097.000 đồng/tháng;
  • Từ đủ 18 năm đến dưới 19 năm: 3.227.000 đồng/tháng;
  • Từ đủ 19 năm đến dưới 20 năm: 3.353.000 đồng/tháng.

Về kinh phí thực hiện, Điều 4 Thông tư 103/2026/TT-BQP quy định nguồn kinh phí điều chỉnh trợ cấp hằng tháng do ngân sách trung ương bổ sung có mục tiêu cho ngân sách địa phương, giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thực hiện. Việc quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí được thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.

Đáng chú ý, mặc dù Điều 6 quy định Thông tư có hiệu lực từ 30/8/2026, nhưng toàn bộ quy định về điều chỉnh trợ cấp được thực hiện từ ngày 01/7/2026. Đồng thời, Thông tư cũng bãi bỏ Thông tư 53/2024/TT-BQP và một số quy định tại Thông tư 103/2025/TT-BQP kể từ ngày Thông tư mới có hiệu lực.

Theo Điều 7 Thông tư 103 2026 TT BQP, Đối với các trường hợp đã được cấp có thẩm quyền quyết định hưởng trợ cấp theo quy định trước đây thì tiếp tục thực hiện theo quy định của các Thông tư cũ tương ứng với từng thời kỳ để bảo đảm thống nhất về đối tượng và mức trợ cấp hằng tháng.

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Không nộp hoặc nộp thiếu báo cáo thống kê phải nộp bổ sung đầy đủ từ ngày 02/11/2026

Không nộp hoặc nộp thiếu báo cáo thống kê phải nộp bổ sung đầy đủ từ ngày 02/11/2026

Không nộp hoặc nộp thiếu báo cáo thống kê phải nộp bổ sung đầy đủ từ ngày 02/11/2026

Từ ngày 02/11/2026, theo Nghị định 362/2026/NĐ-CP cá nhân, tổ chức vi phạm quy định về thời hạn hoặc tính đầy đủ của báo cáo thống kê không chỉ bị cảnh cáo, phạt tiền mà còn phải nộp bổ sung đầy đủ báo cáo theo yêu cầu.

​Từ 17/9/2026, vốn đầu tư để thành lập trường đại học tư thục giảm còn tối thiểu 300 tỷ đồng

​Từ 17/9/2026, vốn đầu tư để thành lập trường đại học tư thục giảm còn tối thiểu 300 tỷ đồng

​Từ 17/9/2026, vốn đầu tư để thành lập trường đại học tư thục giảm còn tối thiểu 300 tỷ đồng

Đây là quy định mới tại Nghị định 361/2026/NĐ-CP của Chính phủ về điều kiện đầu tư và hoạt động trong giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và kiểm định chất lượng giáo dục, ban hành và hiệu lực ngày 17/9/2026.

Nghị định 360 2026 CP: Trường có tên “quốc tế”, “quốc gia”, “Việt Nam” gây hiểu nhầm phải đổi tên trong 12 tháng

Nghị định 360 2026 CP: Trường có tên “quốc tế”, “quốc gia”, “Việt Nam” gây hiểu nhầm phải đổi tên trong 12 tháng

Nghị định 360 2026 CP: Trường có tên “quốc tế”, “quốc gia”, “Việt Nam” gây hiểu nhầm phải đổi tên trong 12 tháng

Quy định nêu tại Nghị định 360/2026/NĐ-CP về điều kiện đầu tư và hoạt động của cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên và cơ sở giáo dục khác thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.

​Phụ cấp chức vụ mới thấp hơn mức đang hưởng, cán bộ quản lý giáo dục được bảo lưu mức cũ (dự kiến)

​Phụ cấp chức vụ mới thấp hơn mức đang hưởng, cán bộ quản lý giáo dục được bảo lưu mức cũ (dự kiến)

​Phụ cấp chức vụ mới thấp hơn mức đang hưởng, cán bộ quản lý giáo dục được bảo lưu mức cũ (dự kiến)

Một trong những nội dung đặc biệt được quan tâm tại Dự thảo Nghị định quy định chế độ phụ cấp chức vụ đối với cán bộ quản lý cơ sở giáo dục là cách xử lý khi hệ số phụ cấp mới thấp hơn mức cán bộ quản lý đang hưởng.

Đề xuất: Hệ số phụ cấp chức vụ của Hiệu trưởng trường mầm non, tiểu học là 0,5

Đề xuất: Hệ số phụ cấp chức vụ của Hiệu trưởng trường mầm non, tiểu học là 0,5

Đề xuất: Hệ số phụ cấp chức vụ của Hiệu trưởng trường mầm non, tiểu học là 0,5

Dự thảo Nghị định quy định chế độ phụ cấp chức vụ đối với cán bộ quản lý cơ sở giáo dục đã đề xuất mức phụ cấp cụ thể đối với hiệu trưởng, phó hiệu trưởng và cán bộ quản lý tổ chuyên môn tại trường mầm non, tiểu học. 

3 chức danh không chuyên trách dôi dư do sắp xếp thôn, tổ dân phố được giải quyết chính sách theo Nghị định 154

3 chức danh không chuyên trách dôi dư do sắp xếp thôn, tổ dân phố được giải quyết chính sách theo Nghị định 154

3 chức danh không chuyên trách dôi dư do sắp xếp thôn, tổ dân phố được giải quyết chính sách theo Nghị định 154

Ngày 26/8/2026, Bộ Nội vụ ban hành Công văn 9458/BNV-TCBC hướng dẫn Sở Nội vụ TP HCM thực hiện chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố theo Nghị định 154/2025/NĐ-CP.

Cán bộ giải quyết khiếu nại, tố cáo không được tiết lộ danh tính hoặc trù dập người tố cáo

Cán bộ giải quyết khiếu nại, tố cáo không được tiết lộ danh tính hoặc trù dập người tố cáo

Cán bộ giải quyết khiếu nại, tố cáo không được tiết lộ danh tính hoặc trù dập người tố cáo

Từ ngày 15/10/2026, theo Thông tư 06/2026/TT-TTCP, cán bộ thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo không được tiết lộ trái pháp luật danh tính người tố cáo; không được đe dọa, trả thù hoặc trù dập người khiếu nại, tố cáo.