Nghị định 390/2026: Vàng trang sức không còn là ngành nghề kinh doanh có điều kiện

Từ ngày 16/10/2026, Nghị định 390/2026/NĐ-CP quy định hoạt động sản xuất, gia công, kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ không phải là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.

Khoản 3 Điều 1 Nghị định 390/2026/NĐ-CP sửa đổi khoản 7 Điều 4 Nghị định 24/2012/NĐ-CP:

3. Sửa đổi, bổ sung khoản 7 Điều 4 như sau:

“7. Hoạt động sản xuất, gia công, kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ không phải là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động sản xuất, gia công, kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ có trách nhiệm tuân thủ quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, tiêu chuẩn, đo lường, nhãn hàng hóa, niêm yết giá, hóa đơn, chứng từ, thuế, phòng cháy, chữa cháy, bảo vệ môi trường, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, phòng, chống rửa tiền và pháp luật khác có liên quan.”

Như vậy, Nghị định 390/2026 xác định hoạt động sản xuất, gia công, kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ không phải là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.

Trước đây, khoản 6 Điều 4 Nghị định 24/2012/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định 232/2025/NĐ-CP, quy định sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ là hoạt động kinh doanh có điều kiện, phải có Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất do Ngân hàng Nhà nước cấp.

Vàng trang sức không còn là ngành nghề kinh doanh có điều kiện
Vàng trang sức không còn là ngành nghề kinh doanh có điều kiện (Ảnh minh họa)

Đồng thời, khoản 2 Điều 1 Nghị định 390/2026/NĐ-CP sửa khoản 6 Điều 4, chỉ giữ hoạt động sản xuất vàng miếng và kinh doanh mua, bán vàng miếng trong nội dung yêu cầu cấp giấy phép tương ứng.

Điều 6 Nghị định 390/2026/NĐ-CP bãi bỏ các Điều 5, 6, 7, 8 và 9 Nghị định 24/2012/NĐ-CP về điều kiện, trách nhiệm trong sản xuất, gia công, mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ.

Điều này cũng bãi bỏ điểm a khoản 3 Điều 16 về việc cấp, sửa đổi, bổ sung, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất; bãi bỏ khoản 1 Điều 19 về hành vi sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ không có giấy chứng nhận do Ngân hàng Nhà nước cấp.

Theo khoản 2 Điều 7 Nghị định 390/2026/NĐ-CP, giấy chứng nhận đã cấp không còn là điều kiện để thực hiện hoạt động sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ.

Điều luật này cũng quy định Ngân hàng Nhà nước chấm dứt giải quyết hồ sơ cấp, sửa đổi, bổ sung giấy chứng nhận đã nộp nhưng chưa giải quyết và thông báo cho người nộp.

Dù bỏ điều kiện kinh doanh, khoản 7 Điều 4 Nghị định 390 vẫn yêu cầu tuân thủ pháp luật về chất lượng, đo lường, nhãn hàng hóa, giá, hóa đơn, thuế, phòng cháy, môi trường, bảo vệ người tiêu dùng và phòng, chống rửa tiền.

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Đã có Nghị định 390/2026/NĐ-CP sửa Nghị định 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng

Đã có Nghị định 390/2026/NĐ-CP sửa Nghị định 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng

Đã có Nghị định 390/2026/NĐ-CP sửa Nghị định 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng

Chính phủ ban hành Nghị định số 390/2026/NĐ-CP ngày 16/10/2026, sửa đổi Nghị định 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 232/2025/NĐ-CP.

Từ 2027, xã có dưới 80% dân được khám định kỳ hoặc sàng lọc miễn phí không đạt tiêu chí quốc gia về y tế

Từ 2027, xã có dưới 80% dân được khám định kỳ hoặc sàng lọc miễn phí không đạt tiêu chí quốc gia về y tế

Từ 2027, xã có dưới 80% dân được khám định kỳ hoặc sàng lọc miễn phí không đạt tiêu chí quốc gia về y tế

Bộ Y tế ban hành Quyết định 3138/QĐ-BYT ngày 08/10/2026 về Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn từ năm 2026 đến năm 2035, áp dụng cho các xã, phường, đặc khu.

Nghị quyết 31 TW: Đánh giá cán bộ dựa trên sản phẩm, dữ liệu được kiểm chứng để bố trí, sử dụng và sàng lọc

Nghị quyết 31 TW: Đánh giá cán bộ dựa trên sản phẩm, dữ liệu được kiểm chứng để bố trí, sử dụng và sàng lọc

Nghị quyết 31 TW: Đánh giá cán bộ dựa trên sản phẩm, dữ liệu được kiểm chứng để bố trí, sử dụng và sàng lọc

Nghị quyết 31-NQ/TW về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới được ban hành ngày 15/10/2026.

Hà Nội áp dụng giá trông giữ ô tô đến 9 chỗ tại 12 tuyến phố đô thị lõi là 50.000 đồng/lượt/60 phút

Hà Nội áp dụng giá trông giữ ô tô đến 9 chỗ tại 12 tuyến phố đô thị lõi là 50.000 đồng/lượt/60 phút

Hà Nội áp dụng giá trông giữ ô tô đến 9 chỗ tại 12 tuyến phố đô thị lõi là 50.000 đồng/lượt/60 phút

Nội dung quy định tại Quyết định 5794/QĐ-UBND ngày 15/10/2026 của UBND TP Hà Nội ban hành “Giá dịch vụ trông giữ xe đạp, xe máy, xe ô tô sử dụng tạm thời lòng đường, hè phố được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn”.