- 1. Mua, bán vàng từ 5 triệu đồng/ngày phải thanh toán không dùng tiền mặt
- 2. Sản xuất, gia công, mua bán vàng trang sức không còn là ngành nghề kinh doanh có điều kiện
- 3. Sửa quy định nhập khẩu vàng nguyên liệu để gia công cho nước ngoài
- 4. Bổ sung hợp đồng xuất khẩu làm căn cứ cấp phép nhập khẩu vàng cho doanh nghiệp FDI
- 5. Bổ sung vàng dạng dây, ống và vàng dùng sản xuất điện tử, y tế vào quy định xuất nhập khẩu
- 6. Điều chỉnh đối tượng mua vàng nguyên liệu nhập khẩu, bổ sung yêu cầu dữ liệu và báo cáo
- 7. Điều chỉnh phạm vi thanh tra, kiểm tra và trách nhiệm về tiêu chuẩn vàng
1. Mua, bán vàng từ 5 triệu đồng/ngày phải thanh toán không dùng tiền mặt
Khoản 4 Điều 1 Nghị định 390/2026/NĐ-CP sửa đổi khoản 10 Điều 4 Nghị định 24/2012/NĐ-CP như sau:
4. Sửa đổi, bổ sung khoản 10 Điều 4 như sau:
“10. Việc thanh toán mua, bán vàng có giá trị từ 05 triệu đồng trong ngày trở lên của một khách hàng phải được thực hiện bằng phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định của pháp luật về thanh toán không dùng tiền mặt.”
Như vậy, Nghị định 390 2026 yêu cầu việc thanh toán mua, bán vàng có giá trị từ 5 triệu đồng trong ngày trở lên của một khách hàng phải thực hiện bằng phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt.
Trước đây, khoản 10 Điều 4, được bổ sung bởi khoản 4 Điều 1 Nghị định 232/2025/NĐ-CP, quy định ngưỡng áp dụng là từ 20 triệu đồng/ngày. Việc thanh toán phải thông qua tài khoản thanh toán của khách hàng và doanh nghiệp kinh doanh vàng mở tại ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Như vậy, Nghị định mới vừa hạ ngưỡng giá trị, vừa chuyển cách quy định phương thức thanh toán sang dẫn chiếu pháp luật về thanh toán không dùng tiền mặt.
Đáng chú ý, ngưỡng 05 triệu đồng được xác định theo giá trị mua, bán trong ngày của một khách hàng, không phải ngưỡng riêng cho từng lần thanh toán. Điều khoản cũng quy định về mua, bán vàng nói chung, không chỉ giới hạn ở vàng miếng.

2. Sản xuất, gia công, mua bán vàng trang sức không còn là ngành nghề kinh doanh có điều kiện
Theo khoản 3 Điều 1 Nghị định 390/2026/NĐ-CP sửa đổi khoản 7 Điều 4 Nghị định 24/2012/NĐ-CP, hoạt động sản xuất, gia công, kinh doanh mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ không phải là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.
Trước đây, khoản 6 Điều 4 yêu cầu hoạt động sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ phải có Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất do Ngân hàng Nhà nước cấp. Khoản 7 Điều này xác định hoạt động mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ là kinh doanh có điều kiện nhưng không cấp giấy chứng nhận.
Ngoài ra, Điều 6 Nghị định 390/2026 bãi bỏ các quy định về hoạt động sản xuất, gia công và mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ tại Nghị định 24/2012, sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 232/2025.
Bên cạnh đó theo khoản 2, khoản 3 Điều 7, giấy chứng nhận đã cấp không còn là điều kiện hoạt động; hồ sơ chưa giải quyết được chấm dứt giải quyết và thông báo cho người nộp.
Tuy nhiên, tổ chức, cá nhân vẫn phải tuân thủ pháp luật về chất lượng, đo lường, nhãn hàng hóa, giá, hóa đơn, thuế, phòng cháy, môi trường, bảo vệ người tiêu dùng và phòng, chống rửa tiền.
3. Sửa quy định nhập khẩu vàng nguyên liệu để gia công cho nước ngoài
Khoản 1 Điều 2 Nghị định 390/2026/NĐ-CP sửa đổi khoản 4 Điều 14 Nghị định 24/2012/NĐ-CP về nhập khẩu vàng nguyên liệu phục vụ hợp đồng gia công.
Theo đó, doanh nghiệp có đăng ký hoạt động sản xuất, gia công vàng trang sức, mỹ nghệ và có hợp đồng gia công với nước ngoài được Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp Giấy phép nhập khẩu vàng nguyên liệu để thực hiện hợp đồng và xuất khẩu sản phẩm gia công. Nhu cầu nhập khẩu phải phù hợp với hợp đồng.
Trước đây, khoản 4 Điều 14, được sửa đổi bởi khoản 9 Điều 1 Nghị định 232/2025/NĐ-CP, quy định cấp Giấy phép tạm nhập vàng nguyên liệu để tái xuất sản phẩm, đồng thời nêu yêu cầu có Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất.
Quy định mới thay đổi tên giấy phép và xác định doanh nghiệp theo đăng ký hoạt động sản xuất, gia công. Theo khoản 4 Điều 7 Nghị định mới, giấy phép tạm nhập đã cấp tiếp tục được thực hiện theo nội dung, thời hạn ghi tại giấy phép, trừ trường hợp bị điều chỉnh, thu hồi.
4. Bổ sung hợp đồng xuất khẩu làm căn cứ cấp phép nhập khẩu vàng cho doanh nghiệp FDI

Khoản 2 Điều 2 Nghị định 390/2026/NĐ-CP sửa đổi khoản 5 Điều 14 Nghị định 24/2012:
2. Sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 14 như sau:
“5. Hằng năm, Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp Giấy phép nhập khẩu vàng nguyên liệu cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài căn cứ vào năng lực sản xuất, tình hình thực hiện hợp đồng gia công hoặc hợp đồng xuất khẩu vàng trang sức, mỹ nghệ và báo cáo tình hình xuất khẩu vàng trang sức, mỹ nghệ của năm trước, nếu có, khi đáp ứng các điều kiện sau:
a) Là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam, có đăng ký hoạt động sản xuất, gia công vàng trang sức, mỹ nghệ;
b) Nhu cầu nhập khẩu vàng nguyên liệu phù hợp với hợp đồng gia công hoặc hợp đồng xuất khẩu vàng trang sức, mỹ nghệ.”
Theo đó, quy định mới tiếp tục quy định việc Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp giấy phép nhập khẩu vàng nguyên liệu hằng năm cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI).
Căn cứ xem xét gồm năng lực sản xuất, tình hình thực hiện hợp đồng gia công hoặc hợp đồng xuất khẩu vàng trang sức, mỹ nghệ và báo cáo xuất khẩu của năm trước, nếu có.
Doanh nghiệp phải được thành lập theo pháp luật Việt Nam, có đăng ký hoạt động sản xuất, gia công vàng trang sức, mỹ nghệ; nhu cầu nhập khẩu phải phù hợp với hợp đồng gia công hoặc hợp đồng xuất khẩu.
Trong khi đó, quy định cũ chỉ nêu căn cứ về năng lực sản xuất, báo cáo xuất khẩu năm trước; điều kiện về nhu cầu nhập khẩu gắn với hợp đồng gia công.
Nghị định 390 2026 đã bổ sung hợp đồng xuất khẩu trong cả căn cứ xem xét và điều kiện xác định nhu cầu nhập khẩu. Việc cấp phép vẫn thuộc thẩm quyền xem xét của Ngân hàng Nhà nước, không tự động phát sinh khi doanh nghiệp có hợp đồng.
5. Bổ sung vàng dạng dây, ống và vàng dùng sản xuất điện tử, y tế vào quy định xuất nhập khẩu
Theo khoản 3 Điều 2 Nghị định 390/2026/NĐ-CP sửa đổi khoản 8 Điều 14, việc xuất khẩu, nhập khẩu hai nhóm vàng sau được thực hiện theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, pháp luật hải quan và pháp luật chuyên ngành liên quan:
- Vàng nguyên liệu dạng bột, dung dịch, vẩy hàn, muối vàng, dây, ống và vàng trang sức dạng bán thành phẩm.
- Vàng làm nguyên liệu sản xuất linh kiện điện tử, thiết bị điện tử, thiết bị y tế, dụng cụ y tế.
Trước đây, khoản 8 Điều 14 chỉ liệt kê vàng dạng bột, dung dịch, vẩy hàn, muối vàng và vàng trang sức dạng bán thành phẩm; quy định thực hiện theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Như vậy, danh mục mới bổ sung vàng dạng dây, ống, đồng thời xác định riêng nhóm vàng theo mục đích sử dụng trong sản xuất điện tử, y tế. Điều khoản cũng nêu rõ việc tuân thủ pháp luật hải quan và pháp luật chuyên ngành.
6. Điều chỉnh đối tượng mua vàng nguyên liệu nhập khẩu, bổ sung yêu cầu dữ liệu và báo cáo
Khoản 4 Điều 2 Nghị định 390/2026/NĐ-CP sửa đổi điểm đ.4 khoản 10 Điều 14 Nghị định 24/2012, cho phép doanh nghiệp, ngân hàng thương mại thuộc khoản này bán vàng nguyên liệu nhập khẩu cho doanh nghiệp có đăng ký hoạt động sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ.
Trước đây, đối tượng mua phải là doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ. Thay đổi này thống nhất với việc bỏ yêu cầu giấy chứng nhận.
Đồng thời, Nghị định 390 yêu cầu hệ thống thông tin xử lý, lưu trữ đầy đủ, chính xác dữ liệu xuất khẩu, nhập khẩu, mua, bán, sử dụng, tồn kho vàng nguyên liệu nhập khẩu và dữ liệu giao dịch mua, bán vàng nguyên liệu.
Điều 5 Nghị định 390 sửa Điều 20 Nghị định 24/2012, bổ sung rõ nội dung báo cáo về mua, bán, sử dụng, tồn kho vàng nguyên liệu nhập khẩu; thực hiện hợp đồng gia công, hợp đồng xuất khẩu đối với trường hợp được cấp phép nhập khẩu.
So với trước đây, Điều 20 mới không còn liệt kê riêng báo cáo tình hình sản xuất, mua, bán vàng trang sức, mỹ nghệ.
7. Điều chỉnh phạm vi thanh tra, kiểm tra và trách nhiệm về tiêu chuẩn vàng
Điều 3 Nghị định 390/2026/NĐ-CP sửa đổi khoản 5 Điều 16 Nghị định 24/2012, xác định Ngân hàng Nhà nước thanh tra, kiểm tra trong phạm vi quản lý nhà nước đối với sản xuất, mua bán vàng miếng; xuất nhập khẩu vàng miếng, vàng nguyên liệu và các hoạt động liên quan.
Quy định mới nêu rõ việc chấp hành quy định về cấp phép, hạn mức, báo cáo, mua, bán, sử dụng vàng nguyên liệu nhập khẩu. Trong khi đó, quy định cũ liệt kê cả hoạt động sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ trong phạm vi thanh tra, kiểm tra tại khoản này.
Bên cạnh đó, Điều 4 Nghị định mới sửa đổi khoản 3 Điều 17, quy định Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp xây dựng, công bố tiêu chuẩn quốc gia đối với vàng trang sức, mỹ nghệ và vàng miếng, thay cho cách quy định “ban hành tiêu chuẩn quốc gia” trước đây.
Các nhiệm vụ kiểm tra, quản lý đo lường, chất lượng vàng và kiểm định phương tiện đo của doanh nghiệp kinh doanh vàng tiếp tục được giữ trong điều khoản sửa đổi.
Trên đây là điểm mới tại Nghị định 390/2026/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng.
RSS