Theo quy định mới tại khoản 23 Điều 3 Nghị định 96/2016/NĐ-CP được sửa đổi bởi Nghị định 58/2026/NĐ-CP, kinh doanh quân trang, quân dụng cho lực lượng vũ trang bao gồm các hoạt động liên quan đến vũ khí quân dụng, trang thiết bị, kỹ thuật, khí tài, phương tiện chuyên dùng cho Quân đội và Công an, cũng như linh kiện, bộ phận, phụ tùng, vật tư và trang thiết bị đặc chủng, công nghệ chuyên dùng để chế tạo các thiết bị này.

Cụ thể, các hoạt động kinh doanh được xác định gồm:
- Sản xuất, mua, bán: Quần, áo, mũ quân phục; quân hiệu, phù hiệu, cấp hiệu, số hiệu của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân.
- Sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu, xuất khẩu, mua, bán, vận chuyển, sửa chữa:
- Súng quân dụng cầm tay hạng nhỏ theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ;
- Máy kiểm tra tốc độ phương tiện giao thông cơ giới đường bộ;
- Thiết bị kiểm tra nồng độ cồn;
- Thiết bị giám sát điện thoại di động GSM và các loại thiết bị giám sát điện thoại di động khác.
Ngoài ra, quy định cũng bao gồm linh kiện, bộ phận, phụ tùng và công nghệ chuyên dùng để chế tạo các loại thiết bị nêu trên.
So với quy định trước đây tại khoản 23 Điều 3 Nghị định 96/2016/NĐ-CP, nội dung sửa đổi tại Nghị định 58/2026/NĐ-CP làm rõ hơn phạm vi các hoạt động kinh doanh liên quan đến quân trang, quân dụng, đồng thời xác định đầy đủ các khâu của hoạt động kinh doanh như sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu, xuất khẩu, mua bán, vận chuyển và sửa chữa đối với các loại thiết bị, khí tài chuyên dùng.
RSS