Văn bản hợp nhất Nghị định 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 102/2021/NĐ-CP ngày 16/11/2021, Nghị định 310/2025/NĐ-CP ngày 02/12/2025 và Nghị định 291/2026/NĐ-CP ngày 21/7/2026.
Theo khoản 1 Điều 1 Văn bản hợp nhất 27 2026 BTC, Nghị định quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền xử phạt, thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính và một số thủ tục xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn.
Nghị định không áp dụng đối với:
- Vi phạm hành chính về phí, lệ phí;
- Vi phạm hành chính về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu do cơ quan hải quan quản lý thu;
- Vi phạm quy định về thủ tục đăng ký thuế, thông báo tạm ngừng hoạt động kinh doanh, thông báo tiếp tục hoạt động kinh doanh trước thời hạn với cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan đăng ký hợp tác xã của các tổ chức, cá nhân thực hiện đăng ký thuế cùng với đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hợp tác xã, đăng ký kinh doanh.

Đối tượng áp dụng gồm người nộp thuế; công chức thuế, cơ quan thuế các cấp và tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thực hiện pháp luật về thuế, hóa đơn.
Đáng chú ý, Điều 4 Văn bản hợp nhất 27/2026/VBHN-NĐ-BTC quy định cụ thể hành vi sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp và sử dụng không hợp pháp hóa đơn, chứng từ.
Theo khoản 1 Điều 4, sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp gồm các trường hợp:
- Hóa đơn, chứng từ giả;
- Hóa đơn, chứng từ chưa có giá trị sử dụng hoặc hết giá trị sử dụng;
- Hóa đơn bị ngừng sử dụng trong thời gian bị cưỡng chế bằng biện pháp ngừng sử dụng hóa đơn, trừ trường hợp được phép sử dụng theo thông báo của cơ quan thuế;
- Hóa đơn điện tử không đăng ký sử dụng với cơ quan thuế;
- Hóa đơn điện tử chưa có mã của cơ quan thuế đối với trường hợp sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế.
Hành vi này còn bao gồm việc sử dụng hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ có ngày lập trên hóa đơn từ ngày cơ quan thuế xác định bên bán không hoạt động tại địa chỉ kinh doanh đã đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Đối với hóa đơn, chứng từ mua hàng hóa, dịch vụ có ngày lập trước ngày xác định bên lập hóa đơn, chứng từ không hoạt động tại địa chỉ kinh doanh đã đăng ký hoặc khi chưa có thông báo của cơ quan thuế về tình trạng này, nếu cơ quan thuế, cơ quan công an hoặc cơ quan chức năng khác đã kết luận đó là hóa đơn, chứng từ không hợp pháp thì cũng thuộc trường hợp sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp.
Theo khoản 2 Điều 4, sử dụng không hợp pháp hóa đơn, chứng từ gồm các trường hợp:
- Hóa đơn, chứng từ không ghi đầy đủ nội dung bắt buộc theo quy định;
- Hóa đơn bị tẩy xóa, sửa chữa không đúng quy định;
- Hóa đơn, chứng từ khống, tức là đã ghi các chỉ tiêu, nội dung nghiệp vụ kinh tế nhưng việc mua bán hàng hóa, dịch vụ không có thật một phần hoặc toàn bộ;
- Hóa đơn phản ánh không đúng giá trị thực tế phát sinh;
- Lập hóa đơn khống hoặc lập hóa đơn giả.
Các trường hợp sử dụng không hợp pháp hóa đơn, chứng từ còn bao gồm hóa đơn có sự chênh lệch về giá trị hàng hóa, dịch vụ hoặc sai lệch các tiêu thức bắt buộc giữa các liên của hóa đơn; hóa đơn được sử dụng quay vòng khi vận chuyển hàng hóa trong khâu lưu thông hoặc dùng hóa đơn của hàng hóa, dịch vụ này để chứng minh cho hàng hóa, dịch vụ khác.
Việc sử dụng hóa đơn, chứng từ của tổ chức, cá nhân khác để hợp thức hóa hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc hàng hóa, dịch vụ bán ra cũng được xác định là sử dụng không hợp pháp hóa đơn, chứng từ, trừ hóa đơn của cơ quan thuế và trường hợp được ủy nhiệm lập hóa đơn. Hóa đơn, chứng từ mà cơ quan thuế, cơ quan công an hoặc cơ quan chức năng khác đã kết luận là sử dụng không hợp pháp cũng thuộc trường hợp này.
RSS