Tại Công văn 5746/CT-CS, Cục Thuế giới thiệu một số nội dung mới tại Thông tư 89/2026/TT-BTC như sau:
Về phân nhóm người nộp thuế trong quản lý thuế (Điều 4)
Bổ sung mới Điều này quy định về phân nhóm người nộp thuế trong quản lý thuế gồm 3 khoản:
- Khoản 1 quy định về mục đích phân nhóm người nộp thuế phục vụ quản lý thuế, bao gồm xác định chế độ ưu tiên theo quy định tại Điều 48 Nghị định 252/2026/NĐ-CP, phân bổ nguồn lực và áp dụng biện pháp quản lý phù hợp, thực hiện phân tích và đánh giá mức độ rủi ro về thuế, mức độ tuân thủ pháp luật về thuế và thực hiện thanh tra, kiểm tra theo mức độ rủi ro về thuế;
- Khoản 2 quy định cụ thể hệ thống tiêu chí phân nhóm người nộp thuế trên cơ sở địa bàn hoạt động, loại người nộp thuế, quy mô, ngành nghề, lĩnh vực hoạt động và loại hình pháp lý, cơ cấu sở hữu, mức độ tuân thủ, lịch sử tuân thủ, mức độ rủi ro về thuế.
- Khoản 3 quy định các biện pháp thích đáng theo phân nhóm người nộp thuế theo mức độ tuân thủ và mức độ rủi ro để áp dụng các biện pháp quản lý tương ứng nhằm phù hợp, thống nhất với Thông tư số 94/2026/TT-BTC ngày 01/7/2026 của Bộ Tài chính hướng dẫn về quản lý rủi ro, quản lý tuân thủ, quản lý rủi ro trong quản lý thuế.
Về đăng ký, thay đổi, bổ sung thông tin và ngừng giao dịch thuế điện tử (Điều 13)
- Bổ sung quy định về việc sử dụng tài khoản định danh điện tử theo pháp luật về định danh và xác thực điện tử để thực hiện giao dịch thuế điện tử thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Theo đó, người nộp thuế thuộc đối tượng được cấp tài khoản định danh điện tử sử dụng tài khoản định danh điện tử mức độ 02 (đối với công dân Việt Nam) hoặc tài khoản định danh điện tử (đối với người nước ngoài) để giao dịch với cơ quan thuế và thực hiện việc cập nhật, thay đổi thông tin trên Cổng Dịch vụ công quốc gia theo hướng dẫn của chủ quản hệ thống thông tin (khoản 1).- Sửa đổi quy định về thời hạn người nộp thuế cập nhật thay đổi, bổ sung thông tin đăng ký giao dịch điện tử với cơ quan thuế từ “khi có thay đổi” thành “trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày phát sinh thay đổi” (điểm b khoản 3).
- Sửa đổi, bổ sung quy định rõ các trường hợp ngừng thực hiện giao dịch thuế điện tử đối với người nộp thuế thuộc trường hợp người nộp thuế đã bị cơ quan thuế thông báo không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký và sau đó nộp hồ sơ để thực hiện thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế hoặc khôi phục mã số thuế theo quy định của pháp luật về đăng ký thuế.- Bổ sung quy định về người nộp thuế đã đăng ký giao dịch với cơ quan thuế bằng phương thức điện tử thông qua Cổng Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phù hợp với thực tế vì hiện nay người nộp thuế không thực hiện thủ tục này.
Ngoài ra, một số thủ tục được rà soát, đơn giản hóa nhằm bảo đảm thống nhất với quy định của Luật Quản lý thuế và pháp luật về giao dịch điện tử như: bỏ quy định về đăng ký nộp thuế điện tử, bỏ quy định về thời hạn thông báo về việc chấp nhận hay không chấp nhận thông tin thay đổi, bổ sung cho người nộp thuế...
RSS